Tuyên Quang: Giá trị xuất khẩu ngành chè đạt trên 4 triệu USD

15/11/2017 9:5

Tuyenquang.gov.vn: Tính đến đầu tháng 11/2017, các doanh nghiệp sản xuất chè của tỉnh đã xuất khẩu được trên 2.234 tấn chè đen, xanh vào thị trường lớn như: Nga, Mỹ, Anh, Trung Quốc, khu vực Trung Đông và một số nước khác. Giá trị xuất khẩu đạt trên 4 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước.



Người dân xã Mỹ Bằng (Yên Sơn) thu hái chè. Ảnh: Tuyết Minh

Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2015-2020, tỉnh Tuyên Quang coi cây chè là cây trồng chủ lực được tập trung phát triển, góp phần nâng cao đời sống người lao động, tạo sự ổn định về kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn. Nhớ lại lịch sử, năm 1954, sau khi đánh thắng thực dân Pháp, miền Bắc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nhận thấy giá trị của cây chè đối với các tỉnh miền núi, Chính phủ đã quyết định chuyển Trung đoàn 242 của Quân đội sang xây dựng 3 Nông trường chè: Tháng Mười, Sông Lô và Tân Trào để khai hoang, tổ chức trồng chè xuất khẩu. Từ đó cây chè bám trụ và lan rộng ra nhiều xã và một số huyện trong tỉnh.
 
Những năm qua, Tuyên Quang đã có nhiều chính sách nâng cao chất lượng và giá trị cho cây chè. Sở Nông nghiệp và PTNT; Sở Khoa học và Công nghệ; UBND các huyện, thành phố trong tỉnh đã phối hợp thực hiện quy hoạch, phát triển vùng sản xuất chè, hỗ trợ, hướng dẫn các hợp tác xã và các cơ sở sản xuất xây dựng các quy chế, quy trình sản xuất, tiêu chí về trọng lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đảm bảo được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Trong đó, việc quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa gắn với hỗ trợ nguồn vốn để phát triển theo các chương trình, dự án của địa phương đã tạo điều kiện để các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất chế biến chè mạnh dạn đầu tư thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Tỉnh còn hỗ trợ 25 triệu đồng/ha cho những doanh nghiệp chế biến chè có dự án trồng mới, trồng lại cây chè sử dụng giống mới, năng suất, chất lượng cao (trừ cây chè đặc sản); trong đó khuyến khích trồng chè theo tiêu chuẩnVietGAP, Global GAP. Đến nay, toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh chế biến, tiêu thụ chè. Sản phẩm chè bảo đảm an toàn thực phẩm theo cam kết của doanh nghiệp với đối tác (tiêu chuẩn của EU), giá bán chè khô tăng. Đối với các hộ trồng chè, thu nhập tăng bình quân 40% so với trước khi tham gia mô hình liên kết sản xuất mới. Người dân ở vùng chè không chỉ thoát nghèo bền vững mà còn vươn lên có thu nhập khá, giàu.
 
Năm 2016, tổng diện tích chè toàn tỉnh đạt trên 8.800ha, tăng 332ha so với năm 2014; tổng sản lượng búp chè tươi đạt trên 65.000 tấn, tăng gần 3.500 tấn so với năm 2014. Cơ cấu giống chè có trên 15 giống, chủ yếu là giống chè Trung du, các giống chè lai, các giống chè đặc sản nhập nội mới và giống chè Shan. Giá trị sản xuất nguyên liệu đối với cây chè đạt trên 426 tỷ đồng, chiếm 7,8% giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt của tỉnh. Các Công ty CP chè Mỹ Lâm, Tân Trào, Sông Lô đã chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến, xây dựng được thị trường xuất khẩu ổn định; có 10 nhãn hiệu chè của các doanh nghiệp, hợp tác xã được công nhận, nhiều sản phẩm được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng như: Chè Vĩnh Tân, xã Tân Trào (Sơn Dương); chè Làng Bát, xã Tân Thành (Hàm Yên); chè Bát Tiên xã Mỹ Bằng (Yên Sơn)... 

Theo định hướng của tỉnh đến năm 2020, diện tích chè toàn tỉnh đạt 8.886 ha, trong đó có gần 8.000 ha chè cho thu hái, năng suất bình quân 90 tạ/ha, tăng trên 10 tạ/ha so với năm 2016. Để thực hiện được mục tiêu trên, tỉnh đề ra nhiều giải pháp. Tại Hội nghị phát triển cây chè tỉnh Tuyên Quang được tổ chức vào tháng 6/2017, đồng chí Nguyễn Đình Quang, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đề nghị ngành nông nghiệp và các đơn vị liên quan thực hiện tốt công tác quy hoạch, đề ra những chính sách để khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, chế biến chè. Liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè theo chuỗi giá trị. Phát huy vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tham gia sản xuất, chế biến chè. Các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở chế biến chè trên địa bàn tiếp tục giữ vững và phát huy hơn nữa thương hiệu các sản phẩm chè. Trong đó chú trọng đến chất lượng và mẫu mã sản phẩm, thực hiện sản xuất, chế biến chè theo hướng an toàn nhằm góp phần không ngừng nâng cao giá trị, vị thế của sản phẩm chè trên thị trường tiêu thụ.
 
Thèn Hương
 
 
 

In bài viết Gửi phản hồi Gửi Email
Liên kết chuyên mục