- Hệ thống đường giao thông: Tuyên Quang có các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km ( từ xã Đội Bình huyện Yên Sơn đến xã Yên Lâm huyện Hàm Yên) nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dương và Thị xã Tuyên Quang. Toàn tỉnh có 340,6 km đường quốc lộ; 392,6km đường tỉnh; 579,8 đường huyện; 141,71 km đường đô thị; kết cấu mặt đường bao gồm các loại: cấp phối, thâm nhập nhựa và bê tông. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn, 96,3% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm.Tỉnh đã hoàn thành quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020. Trong tương lai, Tuyên Quang có một hệ thống giao thông hoàn chỉnh gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt. Trong đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lược của cả nước đi qua địa phận tỉnh như: đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 279, đường cao tốc Hải Phòng-Côn Minh, đường sắt Thái Nguyên- Tuyên Quang- Yên Bái, Tuyến đường sông Việt trì- Tuyên Quang- Hạ lưu thuỷ điện Tuyên Quang. Hệ thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản địa kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tư và mở rộng giao thương để phát triển.
- Hệ thống điện: Tuyên Quang được cung cấp điện mua từ Trung Quốc theo tuyến điện 110 kV từ cửa khẩu Thanh Thuỷ (Hà Giang) đến trạm 110 kV Hà Giang, qua trạm Bắc Quang , qua đường dây 110 KV Bắc Quang-Hàm Yên cấp điện cho 2 trạm biến áp 110 kV của tỉnh là Tuyên Quang và Chiêm Hoá. Ngoài ra Tuyên Quang có thể nhận nguồn cung cấp dự phòng từ tỉnh Yên Bái ( nhà máy thuỷ điện Thác Bà) và tỉnh Thái Nguyên(trạm 220 KV Thái Nguyên) qua đường dây 110KV Thác Bà - Thái Nguyên. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 613 trạm biến áp các loại; 1.447,8 km đường dây tải điện từ 6 KV - 35KV. Tính đến hết năm 2005 đã có 100% số xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ được dùng điện lưới quốc gia đạt 84,5%.
- Thông tin liên lạc: Đến nay mạng lưới thông tin liên lạc tiếp tục phát triển, 100% trung tâm huyện, thị phủ sóng điện thoại di động, 100 % xã, phường, thị trấn có điện thoại, đạt mật độ 5,8 máy điện thoại/100 dân; 114/140 xã, phường, thị trấn có nhà bưu điện văn hoá xã; 100% số xã có thư báo trong ngày; 100% huyện, thị có trạm thu phát truyền hình, 80% dân số được nghe đài phát thanh; 75% dân số được xem truyền hình. Phủ sóng di động tới các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ, khu đông dân cư và các tuyến quốc lộ.
- Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Tuyên Quang đã và đang tổ chức đầu tư xây dựng nhằm tăng số người được sử dụng nước sạch. Những năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và cấp nước nhỏ để cho nhân dân miền núi cao và nông thôn được sử dụng nước sạch.
- Hệ thống ngân hàng, tài chính: Hệ thống ngân hàng của Tuyên Quang bao gồm: Ngân hàng đầu tư , Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển Việt Nam, có lực lượng nhân viên đủ năng lực và trình độ để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước (như vay vốn, chuyển tiền, thanh toán, bảo lãnh...) với thời gian nhanh nhất qua hệ thống điện tử hiện đại.
- Toàn tỉnh có 04 trường giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, gồm trường Cao đẳng Sư phạm, trường Trung học Kinh tế kỹ thuật, trường Trung học Y tế và trường Kỹ nghệ tỉnh. Hàng năm, các trường có khả năng đào tạo hàng trăm giáo viên, cán bộ y tế và hàng nghìn cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp, công nhân lành nghề.
- Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Đến nay có 107 trạm y tế xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã. Tỉnh có 4 bệnh viện tuyến tỉnh, 7 bệnh viện tuyến huyện; 100% các xã có trạm y tế hoặc phòng khám đa khoa; có 105 trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ. Tổng số giường bệnh khoảng 2000 giường.