Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX, các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn và nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hoá đã năng động, sáng tạo vượt qua những khó khăn để vận dụng chủ trương, Nghị quyết của Đảng và chính sách Pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn tại địa phương. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều tăng so với năm trước, một số chỉ tiêu đạt khá, như: Sản lượng lương thực, trồng rừng, thu ngân sách, giảm nghèo,... các lĩnh vực công nghiệp, thương mại du lịch từng bước được quan tâm đầu tư, cơ cấu kinh tế bước đầu đã có sự chuyển dịch tăng dần tỷ trọng sản xuất công nghiệp, xây dựng, du lịch... Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định, đời sống nhân dân các dân tộc trong huyện đang từng bước được cải thiện và nâng lên.
Tổng giá trị sản xuất năm 2007 đạt 530.394,7 triệu đồng và ước thực hiện năm 2008 đạt 619.392,3 triệu đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2006-2007 là 12,55%/năm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 đạt 471.000 đồng/người/tháng.
Dự kiến tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện đến hết năm 2008:
+ Sản xuất Nông lâm nghiệp: 42,3%.
+ Công nghiệp - Xây dựng: 23,6%
+ Dịch vụ: 34,1%.
Huyện đã hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; quy hoạch tổng thể cụm công nghiệp An Thịnh với quy mô dự án 78 ha; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và thị trấn Vĩnh Lộc; đang hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã; quy hoạch điều chỉnh một số điểm trong quy hoạch chung thị trấn Vĩnh Lộc; triển khai thực hiện quy hoạch các trung tâm xã, thị tứ Đầm Hồng, Ngọc Hội, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thành quy hoạch phân 3 loại rừng. Hoàn thành các quy hoạch điểm du lịch sinh thái Thác Bản Ba, xã Trung Hà; khảo sát lập hồ sơ quy hoạch điểm du lịch sinh thái Hang Mỏ Ngoặng- Mỏ Bài, xã Phúc Sơn; lập đề án điểm du lịch sinh thái rừng nguyên sinh Tầng, Biến xã Phúc Sơn.
Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả các dự án, phương án quy hoạch sản xuất nông - lâm nghiệp; triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới giao thông; quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng của huyện đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; quy hoạch nghĩa địa thị trấn Vĩnh Lộc; quy hoạch chi tiết các điểm dân cư nông thôn và các khu dân cư thị trấn Vĩnh Lộc.
Các thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế hộ gia đình và hầu hết là sản xuất nông nghiệp, có trên 1.300 hộ hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ; 49 doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH. Kinh tế tập thể: Có 35 HTX nông lâm nghiệp và 11 HTX phi nông nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, vận tải, khai thác cát sỏi và 04 đơn vị Doanh nghiệp Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết số 05 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang, huyện tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế nông lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010. Một số chương trình, dự án bước đầu đạt kết quả khá như: Việc quy hoạch sản xuất lạc, đậu tương hàng hoá, vùng mía nguyên liệu, quy hoạch sản xuất cây vụ đông và đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thực hiện thâm canh trên diện tích 4.500 ha lúa 2 vụ đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn; bình quân lương thực đầu người (2006-2008) là 517 kg. Đã hình thành vùng chuyên canh trồng lạc hàng hoá tại các xã Phúc Sơn, Minh Quang, Tân Mỹ…, diện tích gieo trồng lạc hàng năm trên 2.400 ha, sản lượng trên 8.000 tấn; vùng đậu tương 805 ha, sản lượng trên 1.000 tấn và vùng mía nguyên liệu tại các xã: Vinh Quang, Kim Bình, Trung Hoà, Ngọc Hội, Yên nguyên với diện tích 912 ha; ổn định thâm canh 846,7 ha cây ăn quả.
Về chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm được duy trì phát triển: Đàn trâu hiện có 39.800 con, đàn Bò 3.850 con, đàn Lợn 104.200 con, đàn Gia cầm 1.070 nghìn con. Phát triển ổn định 100 lồng cá và 362,5 ha diện tích mặt nước nuôi thả cá.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thường xuyên được trú trọng. Những năm qua, huyện luôn bảo vệ tốt vốn rừng hiện có, tích cực phát triển trồng rừng để nâng cao thu nhập từ kinh tế rừng và duy trì độ che phủ của rừng gần 70%. Kết quả trồng rừng hàng năm đảm bảo kế hoạch giao, tổng diện tích trồng rừng từ năm 2006 đến nay được 5.185 ha, trong đó trồng rừng tập trung 3.255,8 ha. Khai thác gỗ rừng trồng trong 2 năm (2006-2007) được 43.029 m3 gỗ đạt 81% so Nghị quyết.
Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2008 ước đạt 62,2 tỷ đồng đạt 44% KH. Đã có quy hoạch Cụm công nghiệp An Thịnh quy mô 48 ha, với các Xí nghiệp sản xuất: Vật liệu xây dựng, chế biến khoáng sản, nông lâm sản. Huyện tiếp tục mời gọi các nhà đầu tư vào xây dựng và sản xuất kinh doanh tại Cụm Công nghiệp An Thịnh xã Phúc Thịnh. Hiện nay đã có 02 nhà máy: Nhà máy chế biến đũa gỗ tách xuất khẩu và Nhà máy khai thác, chế biến Ferromangan với công suất thiết kế 15.000 tấn sản phẩm/năm đi vào hoạt động. Khai thác tận thu mỏ than Linh Đức xã Linh Phú. Ngoài ra huyện thường xuyên trú trọng, khuyến khích các cơ sở chế biến cơ khí, sản xuất đồ mộc, đồ gia dụng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh...; xây dựng dự án phát triển làng nghề mây tre đan tại xã Trung Hà.
Toàn huyện có 44 điểm/117 điểm di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh được cấp bằng (trong đó: Bằng cấp Quốc gia 24 điểm, bằng cấp tỉnh 20 điểm). Còn nhiều điểm danh lam thắng cảnh và các điểm di tích lịch sử chưa có điều kiện đầu tư khai thác. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2006-1010 đã đưa ra chủ trương phát triển du lịch sinh thái và du lịch lịch sử của huyện và mời gọi các nhà đầu tư thực hiện quy hoạch, đầu tư xây dựng các điểm du lịch sinh thái. Hiện nay đã có một Doanh nghiệp tư nhân ở huyện đầu tư khai thác kinh doanh Thác nước Bản Ba, xã Trung Hà, 6 tháng đầu năm 2008 ước khoảng 10.000 lượt khách đến thăm quan.
Giai đoạn 2006-2008, huyện đã tập trung các biện pháp huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sơ hạ tầng đạt 685,847 tỉ đồng (trong đó: Ngân sáchnhà nước 682,286 tỉ đồng, chiếm 99,48%; vốn nhân dân đóng góp 3,565 tỉ đồng, chiếm 0,52%). Cơ cấu đầu tư giao thông chiếm 66,4%; thuỷ lợi chiếm 14%; công tác quy hoạch 0,67%; đền bù giải phóng mặt bằng 1,12%; đầu tư công cụ phát triển sản xuất 0,22%; công trình phúc lợi và các công trình khác 17,59%.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư phát triển, nhất là hệ thống các công trình: Điện lưới quốc gia, đường giao thông, thuỷ lợi... Có 29/29 xã, thị trấn và 384/396 thôn bản có đường ô tô; toàn huyện có 635 công trình thuỷ lợi lớn và nhỏ tưới chắc cho 3.991 ha/vụ chiếm 65,4% diện tích ruộng, đã kiên cố được 377km chiếm 64% hệ thống kênh mương chính, đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp, toàn huyện có 685 máy làm đất, đã từng bước hình thành từng tổ, đội cơ giới hoá, từng bước xoá bỏ tình trạng sản xuất phân tán, manh mún; 29/29 xã có điện thoại đến xã và điện lưới quốc gia với 82,8% số hộ được sử dụng điện; duy trì phát hành thư, báo đến các xã trong ngày, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, bình quân 100 người dân có 8,1 máy điện thoại cỗ định; cơ sở y tế, phòng học được ngói hoá, 361/396 thôn bản, tổ nhân dân có nhà văn hoá....Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao; môi trường sinh thái được giữ vững.
Năm học 2007-2008, toàn huyện có 94 trường học, với 34.557 học sinh. Huyện đã có nhiều biện pháp để triển khai thực hiện nghiêm túc cuộc vận động "nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục và nói không với việc vi phạm phẩm chất đạo đức nhà giáo và việc học sinh ngồi nhầm lớp". Tỷ lệ học sinh đạt từ trung bình trở lên: Tiểu học 91,6%; THCS 79,5%; THPT 61,65%; tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT nghiêm túc.
Trong những năm qua, đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" 396/396 thôn bản có quy ước thôn bản. Hàng năm có trên 70% hộ gia đình và gần 50% thôn bản đạt tiêu chuẩn văn hoá. Tỷ lệ dân số được nghe Đài trên 90%, xem truyền hình trên 65%.
Huyện thường xuyên chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giảm nghèo, phân công các cơ quan, đơn vị các xã, thị trấn, các doanh nghiệp có biện pháp giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Đến hết năm 2007 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 31,1%%. 6 tháng đầu năm 2008, ước tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 29,55%.
Là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết đại hội đảng các cấp, năm 2008 có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội theo mục tiêu nghị quyết Đại hội đảng bộ huyện đã đề ra và để khai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của huyện đó là:
+ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả... và chăn nuôi đại gia súc; diện tích đất lâm nghiệp trên 120.000 ha, là tiềm năng để phát triển kinh tế rừng và công nghiệp chế biến lâm sản.
+ Các nguồn tài nguyên khoáng sản như Mangan tại xã Phúc Sơn, Minh Quang; Quặng Ăngtimoan tại các xã Ngọc Hội, Phú Bình và các mỏ đá tại các xã: Thổ Bình, Minh Quang, Phúc Sơn, Linh Phú, Tân Thịnh, Ngọc Hội..Cát, sỏi Ngòi Quãng, Sông Gâm…
+ Chiêm Hoá còn được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp, là tiềm năng lớn về phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch lịch sử văn hoá như: Rừng nguyên sinh Cham Chu; thác nước Bản Ba, xã Trung Hà; hang Thẳm Hốc, Thẳm Vài, Bó Ngoặng, thác Lung Chiêng, xã Phúc Sơn; hang Núi Chùa, hang Mỏ Bài, động Bản Pài xã Minh Quang; thác Lụa xã Hà Lang; rừng sinh thái trên núi đá Tầng, Biến xã Phúc Sơn…..; các khu di tích lịch sử: Kim Bình, Kiên Đài, Yên Nguyên, Vinh Quang, Linh Phú, Xuân Quang … cùng nhiều địa danh khác trên địa bàn huyện trước đây là nơi các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc trong suốt thời kỳ kháng chiến.
Huyện Chiêm Hoá tiếp tục tập trung thực hiện các dự án phát triển kinh tế, tạo cơ sở về vùng nguyên liệu, nguồn lực, khoa học kỹ thuật cho phát triển công nghiệp. Hoàn thiện và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
* Về lĩnh vực Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
- Thực hiện khuyến khích, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế vào xây dựng các nhà máy tại Cụm công nghiệp An Thịnh, tập trung các lĩnh vực: Công nghiệp chế biến nông lâm sản, khai thác, chế biến khoáng sản, luyện FERROMANGAN, Ăngtimoan; sản xuất vật liệu xây dựng, như: đá, cát, sỏi, gạch, vôi...; từng bước khôi phục và phát triển hàng thủ công mỹ nghệ.
- Mở rộng quan hệ sản xuất, tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt của huyện.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch chung thị trấn Vĩnh Lộc đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; quy hoạch mạng lưới giao thông của huyện đến năm 2010 phù hợp quy hoạch chung của tỉnh.
* Trong sản xuất nông nghiệp & phát triển nông thôn:
- Tiếp tục thực hiện Dự án cải tạo đàn trâu, các dự án chăn nuôi; Kế hoạch phát triển thuỷ sản.
- Quy hoạch phát triển vùng sản xuất lạc, đỗ tương hàng hoá.
- Quy hoạch phát triển vùng mía nguyên liệu tập trung ở các xã: Vinh Quang, Kim Bình, Trung Hoà, Ngọc Hội... để cung cấp mía nguyên liệu cho các nhà máy đường trong tỉnh.
- Duy trì và phát triển ổn định diện tích cây ăn quả hiện có; xây dựng và tổ chức thực hiện dự án phát triển cây cam tại xã Trung Hà, Hà Lang.
- Tiếp tục thực hiện đề án phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010, từng bước tăng tỷ trọng thu nhập của người lao động nông lâm nghiệp từ nghề rừng.
* Về Thương mại-du lịch: Thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng các điểm du lịch thắng cảnh, sinh thái như: Hang động Mỏ Bài, xã Minh Quang; du lịch sinh thái Tầng - Biến, xã Phúc Sơn; tiếp tục xây dựng đưa điểm du lich sinh thái Thác nước Bản Ba xã Trung Hà vào khai thác kinh doanh có hiệu quả.
Ngô Tuyết Nhung-VPUBND huyện Chiêm Hoá