Tuyên Quang, quê hương cách mạng, có truyền thống lịch sử - văn hoá lâu đời, nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em. Tỉnh có chủ trương bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch.
Năm 2005, Bảo tàng Tuyên Quang và Viện Khảo cổ học phát hiện một bộ di cốt hoá thạch người nguyên thuỷ còn khá nguyên vẹn cùng những công cụ đồ đá và một bếp lửa tại hang Phia Vài, thôn Cốc Ngận, xã Xuân Tân (Nà Hang), thuộc thời kỳ văn hoá Hoà Bình (thời đại đá giữa, cách nay khoảng 10.000 - 12.000 năm). Phát hiện này không chỉ với ý nghĩa về mặt nhân chủng học (nguồn gốc người cổ xưa) mà còn khẳng định vùng đất Tuyên Quang, cụ thể là lưu vực sông Gâm đã có bề đày một nền văn hoá cùng với nền văn hoá Hoà Bình. Chứng tích là gần vị trí ngôi mộ còn tìm thấy rất nhiều công cụ lao động của người nguyên thuỷ (công cụ ghè đẽo thô sơ, mảnh tước, tách… được làm bằng những viên đá cuội suối, đây được xem như là những di sản văn hoá vật thể). Phải chăng đây cũng là điều suy nghĩ về sự phát triển phong phú nét văn hoá dân gian của các dân tộc ở vùng đất Nà Hang đến tận bây giờ, mà mỗi khi nói đến Nà Hang người ta nghĩ ngay đó là vùng đất của những câu truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian.
Trở lại vấn đề truyền thống lịch sử và văn hoá. Sử sách đã ghi chép khá chi tiết, rõ rằng rằng, khi tìm địa điểm bí mật tiện lợi để chỉ đạo kịp thời chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ Pác Bó (Cao Bằng) Bác Hồ đã quyết định chọn Tuyên Quang - Tân Trào. Bởi lẽ Người nhận thấy ở đó (Tuyên Quang) "Thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Và Tuyên Quang - Tân Trào trở thành "Thủ đô khu giải phóng" rồi một lần nữa là trung tâm của "Thủ đô kháng chiến", nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan đầu não ở và làm việc để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến ngày thắng lợi.
Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, những địa điểm được Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương ở và làm việc thành những di tích vô cùng quý giá. Đến thời điểm này (tháng 3-2007) tỉnh ta có 498 di tích lịch sử, văn hoá, trong đó có 74 di tích cách mạng, 348 di tích kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong số này có 88 di tích quốc gia, 55 di tích cấp tỉnh. Di tích cách mạng và kháng chiến tập trung nhiều nhất ở các xã ATK của huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (178 di tích). Còn lại 320 di tích lịch sử, văn hoá (lịch sử, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật), danh lam thắng cảnh trải trên địa bàn nhiều xã thuộc thị xã Tuyên Quang và các huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa, Hàm Yên và Nà Hang.
Ông Tạ Quang Chiến, nguyên cán bộ giúp việc Bác Hồ suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có tới 20 lần ở Tuyên Quang trong gần 6 năm; nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao (một trong số tám người được Bác Hồ đặt tên: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi), rất xúc động phát biểu tại lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo kháng chiến, do tỉnh Tuyên Quang tổ chức hôm 1/4/2007 rằng: "Tuyên Quang là tỉnh có kho tàng di tích lịch sử cách mạng độc đáo và vô giá, không nơi nào trong cả nước có thể sánh được". Đúng! Không chỉ là kho tàng di tích lịch sử cách mạng độc đáo và vô giá mà đây còn là một lợi thế để Tuyên Quang phát triển du lịch lịch sử, văn hoá, trên cơ sở bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử này.
Di tích lịch sử, văn hoá là sản phẩm vật chất, nhưng cũng luôn chứa đựng yếu tố phi vật chất (phi vật thể) thể hiện sức sáng tạo, đời sống tinh thần, tâm linh của thế hệ trước lưu truyền cho thế hệ sau. Thế nên, bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá không chỉ nhằm giữ gìn những sản phẩm vật chất mà còn góp phần làm cho di sản văn hoá phi vật thể phát huy giá trị trong việc giáo dục, nuôi dưỡng, lưu truyền truyền thống cách mạng và bản sắc văn hoá dân tộc. Bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là khi được gắn kết chặt chẽ với phát triển du lịch lịch sử, văn hoá.
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, ngày 31/10/2005, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định phê duyệt Dự án đầu tư phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến (ATK) trên địa bàn tỉnh. Theo dự án này, có 109 di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến quốc gia được phục hồi, bảo tồn và tôn tạo trong giai đoạn từ năm 2005 - 2009. Bằng các nguồn: Vốn chương trình mục tiêu văn hoá phục hồi, bảo tồn, tôn tạo di tích; ngân sách địa phương và các cơ quan, bộ, ngành Trung ương có trụ sở làm việc tại Tuyên Quang thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tham gia phục hồi, tôn tạo di tích, từ năm 2005 đến nay nhiều di tích quan trọng trong Dự án đã được phục hồi, tôn tạo. Trong đó, ưu tiên giai đoạn đầu tập trung phục hồi, tôn tạo các di tích ở khu di tích lịch sử ATK - Tân Trào và Kim Quan, bao gồm các di tích khu vực lán Nà Lừa, đình Tân Trào, đình Hồng Thái, lán Hang Bòng, Hang Thia; các di tích tại điểm di tích lịch sử xã Minh Thanh, Trung Yên; các căn hầm an toàn của Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ tại thôn Khuôn Điển, xã Kim Quan; khu di tích Đại hội II của Đảng, tại xã Kim Bình (Chiêm Hóa); khu di tích Cách mạng Lào, tại Làng Ngòi, Đá Bàn, xã Mỹ Bằng (Yên Sơn)… Hiện nay, Sở Văn hoá - Thông tin đang lập Dự án, báo cáo thiết kế kỹ thuật, dự toán để phục hồi, tồn tạo 8 di tích trong khu di tích Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ, tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên; 3 di tích khu vực lán Nà Lừa; 16 di tích (nơi ở và làm việc của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Quốc hội) tại Đồng Man - Lũng Tẩu, xã Tân Trào; 7 di tích tại Làng Sảo, xã Hợp Thành (địa điểm đầu tiên ghi dấu sự kiện ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp). Các công trình này đều được thi công trong năm 2007.
Lộ trình bảo tồn, phục hồi, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến nêu trên được thực hiện đúng tinh thần nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển du lịch giai đoạn 2006- 2010 và phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh: "Phát triển du lịch bền vững trên cơ sở phát huy truyền thống cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, di tích lịch sử văn hoá, khôi phục các lễ hội truyền thống, nghề truyền thống…". Trước tiên là xây dựng, phát triển khu di tích lịch sử ATK - Tân Trào thành khu du lịch lịch sử, văn hoá và sinh thái quốc gia Tân Trào.
Du lịch sinh thái cũng là một thế mạnh của tỉnh. Bởi thiên nhiên "ban" cho Tuyên Quang hình thế núi non, sông nước mà chỉ với tác động thêm của con người đôi chút thôi thì các danh lam thắng cảnh (thác nước, hang động tự nhiên: Pác Ban, Bản Ba, Bó Ngoẵng, Động Tiên, rừng nguyên sinh Cham Chu, Tát Kẻ - Bản Bung… và hơn 80 km2 mặt nước hồ thuỷ điện Tuyên Quang) gắn với điểm du lịch di tích lịch sử Đại hội II của Đảng tại Kim Bình đang được phục hồi, tôn tạo đã hình thành tua, tuyến du lịch Hàm Yên- Chiêm Hoá - Nà Hang hấp dẫn du khách. Tuy nhiên, đi liền với du lịch sinh thái, nhu cầu của du khách còn phải là thưởng thức những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc. Thế nên, việc cần làm không thể thiếu là xây dựng các làng văn hoá - du lịch, nhằm vừa bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của các dân tộc: Tày, Dao, Mông, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu… như kiến trúc nhà ở, công cụ lao động sản xuất, sinh hoạt, nghề thủ công truyền thống; văn học, nghệ thuật dân gian: ngôn ngữ, chữ viết, các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc… vừa đáp ứng nhu cầu khách tham quan du lịch, đồng thời tăng thu nhập cho người dân. Đây cũng là một hoạt động xã hội hoá du lịch.
Bảo tồn, phục hồi, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hoá, trước tiên là các di tích lịch sử, văn hoá, một lợi thế, tiềm năng của tỉnh, nhằm giáo dục truyền thống và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là phát triển mạnh ngành kinh tế du lịch đang là hướng đi đúng của Tuyên Quang. Tuy nhiên, để thực hiện tốt công việc này cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, trong đó có ngành Thương mại - Du lịch trong cả góc độ đầu tư phát triển và quản lý, khai thác.
Nguyễn Việt Thanh
(Tuyên Quang)