
Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh: Internet)
Mục đích của lập hiến theo tư tưởng của Người là:
Thứ nhất, khẳng định quyền độc lập dân tộc và tính hợp hiến của chính quyền cách mạng
Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập - khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thông báo với nhân dân Việt Nam và thế giới biết rằng, nước Việt Nam từ nay trở đi là một nước độc lập, tự do và theo lẽ thường, nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập ấy, bản tuyên bố đó dựa trên quyền tự quyết của các dân tộc và ý nguyện của dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hàng loạt các biện pháp cấp bách, trong đó: “Phải bầu ngay Quốc hội càng sớm càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận”. Người “đề nghị với Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Với đề nghị này, sự hiện diện của Quốc hội và Hiến pháp có giá trị hết sức to lớn, có Quốc hội thì mới có Hiến pháp, có Hiến pháp thì mới có cơ sở cho Quốc hội hoạt động. Từ đó tạo ra được cơ sở pháp lý cho chính quyền cách mạng nước ta và tăng gấp bội sức mạnh tinh thần cho cuộc vận động thế giới ủng hộ cách mạng Việt Nam.
Thực hiện quyết tâm đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên của dân tộc ta (ngày mùng 6/01/1946) đã bầu ra Quốc hội Khóa I. Ngày mùng 9/11/1946, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam - Hiến pháp 1946. Đây là nền tảng, cơ sở quan trọng để chuyển chính quyền mà nhân dân ta giành được bằng hành động cách mạng thực tiễn thành chính quyền hợp pháp và là phương tiện để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền đó. Mặt khác, ta phải có một công cụ của cách mạng, dùng đạo luật cơ bản để điều chỉnh các mối quan hệ trong một nước mới giành độc lập.
Thứ hai, khẳng định và đảm bảo quyền con người
Đảm bảo quyền con người là mục đích quan trọng của hiến pháp. Nếu như không có vấn đề bảo vệ nhân quyền thì có lẽ nhân loại cũng không cần có một bản hiến pháp cho mỗi quốc gia. Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại, tôn trọng và đảm bảo quyền con người là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đây cũng là một tư tưởng lớn được thể hiện rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, Người và các nhà yêu nước đã đưa ra những yêu cầu cụ thể cho dân tộc Việt Nam. Bản Yêu sách có dáng dấp ban đầu của một “Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam”, thể hiện được tính toàn diện về quyền con người cơ bản được Nguyễn Ái Quốc. Đây chính là những quyền dân sự, chính trị cốt lõi nhất được nêu trong luật nhân quyền quốc tế về sau.
Chiến lược và triết lý cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trước hết phải giành độc lập cho dân tộc, sau đó xây dựng một nhà nước tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, coi nhân quyền và dân quyền là những giá trị thiêng liêng, là lý do, mục tiêu và điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của đất nước. Bởi vì, dân tộc ta muốn giữ được độc lập lâu dài và sự phát triển bền vững thì phải “sửa sang thế đạo, kinh dinh nhân quyền”, xây dựng một nhà nước thật sự “của dân, do dân, vì dân”. Vì lẽ đó, việc đầu tiên và quan trọng hàng đầu của chính quyền cách mạng là cho ra đời một bản hiến pháp tiến bộ, ghi nhận đầy đủ các quyền con người và quyền công dân.
Ở Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày mùng 2/9/1945, Hồ Chí Minh dẫn lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những quyền do tạo hóa ban cho con người bao giờ cũng là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hiến pháp. Đây là lý do vì sao Hồ Chí Minh từng nói “thần linh pháp quyền”, pháp quyền gắn với “pháp luật của tạo hóa”. Theo Người, mục đích sâu xa của hiến pháp và pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà đó là công cụ để bảo vệ và thực hiện lợi ích của con người.
Hai bản hiến pháp đầu tiên của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban dự thảo - Hiến pháp 1946 và 1959 đã ghi nhận các quyền con người, quyền công dân cơ bản sau: Các quyền về chính trị,về kinh tế, về văn hóa, về xã hội. Với những quy định này, quyền con người trở thành một nội dung và mục đích cơ bản của hiến pháp. Đặc biệt, trong Hiến pháp 1946 đã có những quy định tiến bộ mà ngay tại không ít quốc gia phương Tây phải mất nhiều thời gian mới có được.
Thứ ba, tạo nền tảng pháp lý để xây dựng Nhà nước pháp quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề cập đến vai trò của hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Năm 1919, trong tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây thì đã có bốn điểm liên quan đến pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Khi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam chuyển thành “Việt Nam yêu cầu ca”, Hồ Chí Minh vẫn một mực chú trọng: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.
Khi chưa xây dựng được hiến pháp và hình thành được hệ thống pháp luật mới, Hồ Chí Minh đề nghị vận dụng những điều luật cũ còn tương đối phù hợp với tình hình trước mắt, không làm phương hại đến nền độc lập của Việt Nam, không trái với chính thể Dân chủ Cộng hòa, nhất là những luật thuộc về thương mại và hình sự.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng hiến pháp. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, bản dự thảo hiến pháp nhanh chóng được hoàn thành, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thảo luận hết sức dân chủ và thông qua vào tháng 11 năm 1946.
Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý và chi tiết hóa hiến pháp thành luật pháp theo từng giai đoạn chuyển biến của cách mạng, của xã hội. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Người ban hành và ký nhiều sắc lệnh làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước và quyền dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh thời chiến, Quốc hội không thể họp thường kỳ được nên trong một thời gian ngắn, Người phải điều hành, quản lý đất nước bằng sắc lệnh. Sau này, theo đà phát triển, Hồ Chí Minh đã thay “chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”, càng chứng minh một cách thiết thực Nhà nước ta là một nhà nước pháp quyền, có một nền pháp luật của dân, do dân và vì dân.
Khi xây dựng hiến pháp và các đạo luật, Hồ Chí Minh đều lấy điểm xuất phát từ ý nguyện cùng với lợi ích của nhân dân. Người vẫn coi luật là ý chí chung của toàn dân, luật phải do nhân dân đóng góp ý kiến làm ra, đó mới đúng nghĩa của “luật”.
Thứ nhất, khẳng định quyền độc lập dân tộc và tính hợp hiến của chính quyền cách mạng
Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập - khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thông báo với nhân dân Việt Nam và thế giới biết rằng, nước Việt Nam từ nay trở đi là một nước độc lập, tự do và theo lẽ thường, nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập ấy, bản tuyên bố đó dựa trên quyền tự quyết của các dân tộc và ý nguyện của dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hàng loạt các biện pháp cấp bách, trong đó: “Phải bầu ngay Quốc hội càng sớm càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận”. Người “đề nghị với Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Với đề nghị này, sự hiện diện của Quốc hội và Hiến pháp có giá trị hết sức to lớn, có Quốc hội thì mới có Hiến pháp, có Hiến pháp thì mới có cơ sở cho Quốc hội hoạt động. Từ đó tạo ra được cơ sở pháp lý cho chính quyền cách mạng nước ta và tăng gấp bội sức mạnh tinh thần cho cuộc vận động thế giới ủng hộ cách mạng Việt Nam.
Thực hiện quyết tâm đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên của dân tộc ta (ngày mùng 6/01/1946) đã bầu ra Quốc hội Khóa I. Ngày mùng 9/11/1946, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam - Hiến pháp 1946. Đây là nền tảng, cơ sở quan trọng để chuyển chính quyền mà nhân dân ta giành được bằng hành động cách mạng thực tiễn thành chính quyền hợp pháp và là phương tiện để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền đó. Mặt khác, ta phải có một công cụ của cách mạng, dùng đạo luật cơ bản để điều chỉnh các mối quan hệ trong một nước mới giành độc lập.
Thứ hai, khẳng định và đảm bảo quyền con người
Đảm bảo quyền con người là mục đích quan trọng của hiến pháp. Nếu như không có vấn đề bảo vệ nhân quyền thì có lẽ nhân loại cũng không cần có một bản hiến pháp cho mỗi quốc gia. Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại, tôn trọng và đảm bảo quyền con người là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đây cũng là một tư tưởng lớn được thể hiện rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, Người và các nhà yêu nước đã đưa ra những yêu cầu cụ thể cho dân tộc Việt Nam. Bản Yêu sách có dáng dấp ban đầu của một “Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam”, thể hiện được tính toàn diện về quyền con người cơ bản được Nguyễn Ái Quốc. Đây chính là những quyền dân sự, chính trị cốt lõi nhất được nêu trong luật nhân quyền quốc tế về sau.
Chiến lược và triết lý cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trước hết phải giành độc lập cho dân tộc, sau đó xây dựng một nhà nước tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, coi nhân quyền và dân quyền là những giá trị thiêng liêng, là lý do, mục tiêu và điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của đất nước. Bởi vì, dân tộc ta muốn giữ được độc lập lâu dài và sự phát triển bền vững thì phải “sửa sang thế đạo, kinh dinh nhân quyền”, xây dựng một nhà nước thật sự “của dân, do dân, vì dân”. Vì lẽ đó, việc đầu tiên và quan trọng hàng đầu của chính quyền cách mạng là cho ra đời một bản hiến pháp tiến bộ, ghi nhận đầy đủ các quyền con người và quyền công dân.
Ở Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày mùng 2/9/1945, Hồ Chí Minh dẫn lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những quyền do tạo hóa ban cho con người bao giờ cũng là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hiến pháp. Đây là lý do vì sao Hồ Chí Minh từng nói “thần linh pháp quyền”, pháp quyền gắn với “pháp luật của tạo hóa”. Theo Người, mục đích sâu xa của hiến pháp và pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà đó là công cụ để bảo vệ và thực hiện lợi ích của con người.
Hai bản hiến pháp đầu tiên của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban dự thảo - Hiến pháp 1946 và 1959 đã ghi nhận các quyền con người, quyền công dân cơ bản sau: Các quyền về chính trị,về kinh tế, về văn hóa, về xã hội. Với những quy định này, quyền con người trở thành một nội dung và mục đích cơ bản của hiến pháp. Đặc biệt, trong Hiến pháp 1946 đã có những quy định tiến bộ mà ngay tại không ít quốc gia phương Tây phải mất nhiều thời gian mới có được.
Thứ ba, tạo nền tảng pháp lý để xây dựng Nhà nước pháp quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề cập đến vai trò của hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Năm 1919, trong tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây thì đã có bốn điểm liên quan đến pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Khi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam chuyển thành “Việt Nam yêu cầu ca”, Hồ Chí Minh vẫn một mực chú trọng: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.
Khi chưa xây dựng được hiến pháp và hình thành được hệ thống pháp luật mới, Hồ Chí Minh đề nghị vận dụng những điều luật cũ còn tương đối phù hợp với tình hình trước mắt, không làm phương hại đến nền độc lập của Việt Nam, không trái với chính thể Dân chủ Cộng hòa, nhất là những luật thuộc về thương mại và hình sự.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng hiến pháp. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, bản dự thảo hiến pháp nhanh chóng được hoàn thành, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thảo luận hết sức dân chủ và thông qua vào tháng 11 năm 1946.
Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý và chi tiết hóa hiến pháp thành luật pháp theo từng giai đoạn chuyển biến của cách mạng, của xã hội. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Người ban hành và ký nhiều sắc lệnh làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước và quyền dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh thời chiến, Quốc hội không thể họp thường kỳ được nên trong một thời gian ngắn, Người phải điều hành, quản lý đất nước bằng sắc lệnh. Sau này, theo đà phát triển, Hồ Chí Minh đã thay “chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”, càng chứng minh một cách thiết thực Nhà nước ta là một nhà nước pháp quyền, có một nền pháp luật của dân, do dân và vì dân.
Khi xây dựng hiến pháp và các đạo luật, Hồ Chí Minh đều lấy điểm xuất phát từ ý nguyện cùng với lợi ích của nhân dân. Người vẫn coi luật là ý chí chung của toàn dân, luật phải do nhân dân đóng góp ý kiến làm ra, đó mới đúng nghĩa của “luật”.
Trương Thị Thu Hà
Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang
