
Hạt Kiểm lâm khu vực XVI tăng cường tuyên truyền bảo vệ rừng.
Tuyên Quang là một trong những địa phương có tỷ lệ che phủ rừng cao của cả nước, đạt khoảng 62%, với hệ sinh thái rừng đa dạng, giàu tiềm năng. Toàn tỉnh hiện có hơn 670,4 nghìn ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh triển khai hiệu quả chính sách DVMTR, hướng tới khai thác hợp lý, bền vững các giá trị từ rừng.
Năm 2025, tổng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng của tỉnh đạt trên 184 tỷ đồng, cùng hơn 34,6 tỷ đồng từ trồng rừng thay thế. Trong quý I/2026, tổng nguồn thu đạt gần 53 tỷ đồng, trong đó hơn 35 tỷ đồng từ DVMTR và trên 17 tỷ đồng từ trồng rừng thay thế. Nguồn lực này không chỉ góp phần tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng mà còn tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân gắn bó với rừng.
Gia đình ông Hoàng Mạnh Tài ở thôn Khâu Lầu, xã Nấm Dẩn được giao bảo vệ gần 5 ha rừng, mỗi năm gia đình đều nhận được tiền chi trả từ dịch vụ môi trường rừng. Dù mức hỗ trợ không lớn nhưng ổn định, góp phần cải thiện thu nhập, đồng thời tạo động lực để gia đình tích cực giữ rừng, hạn chế những tác động tiêu cực.
Ông Hoàng Văn Tuất, Trưởng thôn Khâu Lầu cho biết, thôn có 72 hộ, phần lớn được giao khoán rừng. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm. Thôn duy trì 2 tổ tuần rừng với 12 thành viên, hoạt động thường xuyên, vừa tuần tra, kiểm soát, vừa tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy mùa hanh khô.

Hạt Kiểm lâm khu vực III tuần tra, kiểm tra rừng đặc dụng tại thôn Cao Đường, xã Bạch Xa.
Từ khi chính sách chi trả DVMTR được triển khai, nguồn kinh phí được chi trả kịp thời, đúng đối tượng đã góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống người dân. Các hộ nhận khoán chủ động tuần tra, bảo vệ, gắn trách nhiệm cụ thể với từng khoảnh rừng, đưa công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng đi vào nền nếp, hiệu quả rõ rệt.
Theo ông Hoàng Văn Minh, Bí thư Chi bộ thôn Nà Tông, xã Thượng Lâm, thôn đã xây dựng cơ chế sử dụng nguồn kinh phí hợp lý, hài hòa giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng. Một phần kinh phí được chi trả trực tiếp cho các hộ tham gia bảo vệ rừng; phần còn lại được đưa vào quỹ chung để đầu tư phát triển hạ tầng và sinh kế. Từ nguồn quỹ này, người dân chung tay làm đường nội thôn, cải thiện giao thông, đồng thời đầu tư cây giống, vật tư phát triển mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng – hướng đi phù hợp, góp phần gia tăng giá trị kinh tế. Nhờ đó, đời sống người dân từng bước nâng lên, ý thức bảo vệ rừng ngày càng bền vững.
Còn tại thôn Bản Péo, xã Nậm Dịch người dân thống nhất trích một phần kinh phí hỗ trợ học sinh nghèo, giúp đỡ hộ khó khăn, qua đó tăng cường tinh thần đoàn kết cộng đồng. Việc quản lý, sử dụng nguồn tiền được thực hiện công khai, minh bạch, đúng mục đích, góp phần củng cố niềm tin của người dân. Thực tế cho thấy, khi được hưởng lợi trực tiếp từ rừng, người dân đã thay đổi nhận thức, coi rừng là tài sản và sinh kế lâu dài, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ, giảm thiểu xâm hại tài nguyên. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cũng tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát, hoàn thiện hồ sơ, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Bà Đinh Thị Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết: Những năm qua, việc chi trả DVMTR luôn được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, qua đó góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống người dân và tạo nguồn lực tái đầu tư cho phát triển rừng. Cùng với đó, việc thành lập các ban kiểm tra, giám sát từ cấp xã đến thôn đã giúp tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện, từng bước củng cố niềm tin và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng đối với công tác bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, quá trình triển khai chính sách vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Ở một số vùng sâu, vùng xa, hạ tầng viễn thông chưa đồng bộ, nhiều hộ dân chưa tiếp cận được dịch vụ ngân hàng, gây trở ngại cho việc chi trả không dùng tiền mặt. Mức chi trả tại một số địa bàn còn thấp, chưa đủ tạo động lực để người dân gắn bó lâu dài với rừng. Công tác rà soát, xác định diện tích rừng cung ứng dịch vụ ở một số nơi còn chồng lấn, sai lệch giữa hồ sơ và thực tế, dẫn đến khó khăn trong xác định đối tượng và mức chi trả. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân về chính sách còn hạn chế, chưa hiểu đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp. Địa hình miền núi phức tạp, giao thông khó khăn, đặc biệt trong mùa mưa lũ, cũng tác động không nhỏ đến công tác kiểm tra, giám sát.

Tuyên Quang là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về độ che phủ rừng.
Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác bảo vệ và phát triển rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xác định tiếp tục hoàn thiện quy trình chi trả DVMTR theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả hơn. Trọng tâm là phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng để cập nhật, đồng bộ dữ liệu diện tích rừng trên hệ thống dùng chung, bảo đảm chính xác, tránh trùng lặp. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hình thức chi trả qua tài khoản ngân hàng, hướng tới mục tiêu 100% chủ rừng được nhận tiền không dùng tiền mặt.
Song song với đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cũng được chú trọng, đặc biệt là kỹ năng ứng dụng công nghệ số, giám sát hiện trường và xử lý hồ sơ trực tuyến. Về lâu dài, Quỹ dự kiến nghiên cứu tích hợp DVMTR với các chương trình tín chỉ carbon, nông nghiệp thông minh và phát triển lâm nghiệp bền vững, qua đó mở rộng nguồn thu từ rừng./.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
