
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu tỉnh.
Dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương có Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương; Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương…
Dự tại điểm cầu tỉnh Tuyên Quang có các đồng chí: Hầu A Lềnh, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Phan Huy Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Ma Thế Hồng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; thành viên Ban Chỉ đạo phát triển KHCN, ĐMST, CĐS tỉnh; Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ngành.

Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Ma Thế Hồng dự hội nghị tại điểm cầu tỉnh.
Những dấu ấn nổi bật
Sau 1 năm 6 tháng, Nghị quyết 57 đã tạo chuyển biến quan trọng về nhận thức, quyết tâm chính trị và phương thức tổ chức thực hiện với những dấu ấn nổi bật như:
Thể chế đi trước tạo hành lang pháp lý, khơi thông nguồn lực; chuyển dịch tư duy lập pháp từ việc “khuyến khích chung” sang “thiết kế hành lang pháp lý thực thi”. Các cơ quan trong hệ thống chính trị đã xây dựng, trình ban hành hơn 400 văn bản, trong đó có 30 luật; ngân sách bố trí cho KHCN, ĐMST, CĐS đạt 3% tổng chi ngân sách nhà nước, ở mức cao nhất trong 10 năm; tư duy quản lý chuyển từ kiểm soát đầu vào, thủ tục sang tự chủ, quản lý theo mục tiêu và kết quả đầu ra; kinh tế số chiếm 14,02% GDP (mục tiêu 2030 tối thiểu 30%).

Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Văn Sơn và Chủ tịch UBND tỉnh Phan Huy Ngọc dự hội nghị tại điểm cầu tỉnh.
Chuyển đổi số có chuyển biến rõ nét, phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp và bảo đảm vận hành phục vụ hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: 5G phủ khoảng 91,9% dân số, hơn 71 triệu tài khoản định danh điện tử được kích hoạt, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại địa phương đạt 93,54%, ước tính tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã định hình được nhiệm vụ trọng tâm. Đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm và 20 bài toán lớn của quốc gia; song số công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thương mại hóa và tạo tác động kinh tế còn ít, phần lớn nhiệm vụ đang ở giai đoạn thiết kế cơ chế, chuẩn bị đầu tư hoặc thử nghiệm. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp 44/139…

Lãnh đạo các ban xây dựng Đảng Tỉnh ủy và đại biểu dự hội nghị.
Những các làm đột phá, mô hình có sự lan tỏa
Đề án 06, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng định danh điện tử VNeID là mô hình tiêu biểu về hạ tầng dữ liệu, định danh và xác thực điện tử dùng chung ở quy mô toàn quốc. Hơn 71 triệu tài khoản đã được kích hoạt; VNeID được sử dụng trong dịch vụ công, tài chính, ngân hàng, hàng không, y tế và một số tiện ích xã hội, khẳng định dữ liệu gốc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” là điều kiện nền tảng của dịch vụ số, kinh tế số và xã hội số.
Mạng bảo mật liên thông và nền tảng số dùng chung trong hệ thống chính trị Mạng bảo mật liên thông cơ bản hoàn thành 98% với 7.137 điểm kết nối; Hệ thống Điều hành tác nghiệp của Đảng triển khai tới 34 tỉnh ủy, thành ủy và 3.321 xã, phường, đặc khu. Mô hình góp phần duy trì lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành an toàn, liên tục, nhưng cần tiếp tục hoàn thiện theo kiến trúc thống nhất, liên thông, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp.
Phong trào “Bình dân học vụ số” và Nền tảng “Bình dân học vụ số” quốc gia đã tạo kênh phổ cập kỹ năng số rộng rãi, nhất là tại cơ sở, vùng sâu, vùng xa; riêng từ đầu năm 2026 ghi nhận khoảng 880,6 nghìn lượt học, tiết giảm khoảng 80% chi phí so với đào tạo truyền thống. Nền tảng trực tuyến “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” được triển khai thần tốc với chi phí 0 đồng ngân sách cho khâu xây dựng học liệu, ghi nhận hơn 91% đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức hoàn thành chương trình và sát hạch.
Mô hình quản trị thực thi trên môi trường số đến cấp xã của Hà Nội, gắn đánh giá thực thi và điều kiện bảo đảm vận hành Hà Nội triển khai nền tảng HanoiWork gắn OKR/KPI để giao việc, theo dõi tiến độ, sản phẩm và trách nhiệm từ Thành phố đến cấp xã; đồng thời bảo đảm thiết bị, đường truyền, tài khoản, chữ ký số, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối phản ánh của người dân với quy trình xử lý. Giá trị của mô hình là đặt trọng tâm vào quản trị thực thi và năng lực vận hành ở cơ sở.
9 địa phương khác có những mô hình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế và chuỗi giá trị như: Thái Nguyên phát triển chuỗi chè gắn với truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử; Cà Mau nhân rộng mô hình nuôi tôm tuần hoàn; Đồng Tháp ứng dụng nền tảng giám sát sâu rầy; Phú Thọ hình thành chuỗi quế hữu cơ có doanh nghiệp bao tiêu; Khánh Hòa yêu cầu nhiệm vụ có đơn vị cam kết tiếp nhận ngay từ khâu phê duyệt; Tỉnh Lâm Đồng dẫn đầu cả nước về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với khoảng 1.200/107.000 ha ứng dụng IoT và trí tuệ nhân tạo; Thành phố Đà Nẵng phát triển Trung tâm công nghiệp dược liệu với sâm Ngọc Linh gắn với truy xuất nguồn gốc; Gia Lai triển khai sản phẩm chiến lược về vật liệu Graphene và kỹ thuật protein engineering; Lạng Sơn vận hành Công viên logistics Viettel - mô hình đầu tiên cả nước để các địa phương có cửa khẩu tham khảo, nhân rộng.

Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Phạm Thị Minh Xuân và Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Mạnh Tuấn dự hội nghị.
Còn điểm nghẽn và chưa thực chất
Bên cạnh kết quả đạt được, một số nội dung mới hoàn thành về thủ tục, phạm vi triển khai hoặc sản phẩm trung gian, chưa tạo kết quả vận hành và tác động tương xứng như: Các tỷ lệ về dịch vụ công trực tuyến (của địa phương ở mức cao nhưng chưa nhiều so với bộ, ngành) và việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu còn chưa thực chất, dẫn đến phía sau giao diện số vẫn còn khâu xử lý thủ công, hồ sơ giấy và nhập lại dữ liệu.
Số lượng hệ thống, nền tảng tăng nhưng hiệu quả sử dụng chưa tương xứng; còn nền tảng số quốc gia, chuyên ngành chưa hoàn thành; một số nền tảng số dùng chung có số lượng người dùng rất lớn còn gặp lỗi và khả năng kết nối còn hạn chế, cán bộ cấp xã vẫn phải dùng nhiều phần mềm, tài khoản và nhập lại thông tin; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia đối với phân phối nội dung số và quản lý bản quyền số trong môi trường xuyên biên giới còn thiếu.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo còn phân tán, thiên về thử nghiệm; thiếu kho tri thức, dữ liệu huấn luyện, quy trình kiểm chứng, phân quyền và trách nhiệm rõ ràng, chưa có chỉ tiêu đo năng suất, chất lượng và mức độ giảm tải công việc.
Một số mô hình hợp tác “ba nhà”, sàn giao dịch công nghệ, khu công nghệ cao và đô thị thông minh còn nặng về tổ chức, kết nối hoặc trình diễn; chưa làm rõ vấn đề ưu tiên, danh mục dự án, nguồn vốn, lộ trình và chỉ tiêu đánh giá.
Tuyên Quang nỗ lực thực hiện Nghị quyết 57
100% nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ thuộc trách nhiệm của địa phương được tỉnh Tuyên Quang triển khai hoàn thành đúng hạn, bảo đảm chất lượng, không có nhiệm vụ quá hạn.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Gia Long và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vương Ngọc Hà dự hội nghị.
Tỉnh đã triển khai Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp đến 136 cơ quan, đạt 100%, với hơn 6.949 tài khoản người dùng; 100% đảng ủy xã, phường đã gửi, nhận và đọc được văn bản có nội dung mật. Thực hiện 2.291 thủ tục hành chính, gồm 1.834 thủ tục cấp tỉnh và 457 thủ tục cấp xã; phê duyệt phương án đơn giản hóa 1.613 thủ tục hành chính; trong đó có 633 thủ tục được cắt giảm, đơn giản hóa hoặc đề xuất bãi bỏ; 980 thủ tục được cắt giảm 30% thời gian giải quyết.
Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh đã kết nối với 24 cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và hệ thống thông tin do bộ, ngành quản lý; tỷ lệ khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 96,98%; 100% cơ sở khám, chữa bệnh hoàn thành liên thông dữ liệu Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID đối với công dân đến khám, chữa bệnh. Đã phủ sóng 5G, internet cáp quang đến 100% trung tâm xã, phường; mạng truyền số liệu chuyên dùng triển khai đến 100% cơ quan, địa phương.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2025 đạt 7,39%, phấn đấu năm 2026 đạt 7,71%. Toàn tỉnh đã triển khai trên 260 mô hình chợ 4.0, thanh toán không dùng tiền mặt; 100% doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử. Toàn tỉnh hiện có khoảng 20 doanh nghiệp chủ chốt hoạt động trong lĩnh vực KHCN, ĐMST, CĐS.
Tỷ lệ xử lý văn bản toàn trình của khối Đảng của Tuyên Quang xếp thứ 13/34 tỉnh ủy, thành ủy (tính đến ngày 30/6/2026); tỷ lệ làm sạch dữ liệu đảng viên xếp thứ 11/34; trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, tỉnh đạt 96,35 điểm, xếp loại Xuất sắc, đứng thứ 10/34 tỉnh, thành phố; chỉ số cải cách hành chính năm 2025 đứng thứ 18/34; chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan nhà nước đứng thứ 16/34; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 xếp thứ 6/34 tỉnh, thành phố.

Lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh tham dự hội nghị.
Thực hiện 4 yêu cầu cấp bách
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Nghị quyết số 57 thực sự đi vào cuộc sống, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang hiện diện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, ngay bên cạnh từng người dân, từ từng sản phẩm từ nông nghiệp đến công nghiệp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đánh giá: Chủ trương đã rõ, thể chế đã từng bước hoàn thiện, nguồn lực đã được bố trí, quyết tâm chính trị đã cao, khí thế hành động đã được khơi dậy; nhưng kết quả thực tế chưa tương xứng, chưa tạo được nhiều sản phẩm cụ thể, chưa đóng góp rõ nét vào tăng trưởng, năng suất và năng lực quản trị quốc gia.… Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi, tổ chức thực hiện, cần có bước đi, kế hoạch cụ thể mới có thể tháo gỡ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 4 yêu cầu cấp bách trong thời gian tới là tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết 57 gắn với yêu cầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Phải nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng mới. Đây không phải là sự lựa chọn, mà là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị, phải chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số. Bên cạnh việc tập trung cho chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp, trong toàn xã hội và phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu.

Quang cảnh tại điểm cầu tỉnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các bộ, ngành Trung ương, phải thực sự đóng vai trò kiến tạo phát triển ngành, lĩnh vực phụ trách; chủ động rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; ban hành kịp thời các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình, kiến trúc tổng thể; tháo gỡ những rào cản, điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc. Đồng thời, phải hướng dẫn, hỗ trợ và đồng hành cùng địa phương. Đối với các bài toán lớn của quốc gia, các công nghệ chiến lược, các cơ sở dữ liệu quốc gia và những nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, cơ quan được giao chủ trì phải trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện đến cùng.
Đối với các địa phương, phải chuyển mạnh từ tư duy thụ động chờ hướng dẫn sang tư duy chủ động tổ chức thực hiện, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật và phân cấp, phân quyền của Trung ương. Mỗi địa phương cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn, lợi thế so sánh và nhu cầu phát triển của mình để lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tham gia các chương trình công nghệ chiến lược quốc gia. Doanh nghiệp phải là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; là nơi đặt hàng, tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế.
Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ các nhà khoa học, cần tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung mạnh hơn vào các bài toán thực tiễn của đất nước, ngành, địa phương và của doanh nghiệp.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu cần tập trung chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; lấy năm học 2026 – 2027 là cánh cửa đầu tiên chuẩn bị nguồn nhân lực KHCN, ĐMST và CĐS cho giai đoạn phát triển mới; các cấp, ngành, trường học rà soát chương trình đào tạo, coi chuẩn bị nhân lực hôm nay là động lực cho sự cạnh tranh trong tương lai…
Theo https://baotuyenquang.com.vn/thoi-su-chinh-tri/202607/khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-phai-co-ket-qua-gia-tri-cu-the-va-dong-gop-vao-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-6721721/
