
Đồng chí Phan Huy Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ UBND tỉnh để họp bàn, triển khai, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.
Từ cơ quan tham mưu đến hiệu quả điều hành
Để nghị quyết thực sự trở thành hành động, Đảng ủy UBND tỉnh đã bám sát các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy với phương châm “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững”. Đảng ủy đã lãnh đạo UBND tỉnh và các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc quán triệt, cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành chương trình, kế hoạch thực hiện theo thẩm quyền. Trọng tâm là tổ chức thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, các nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và các quyết định của UBND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, thu, chi ngân sách năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Đảng ủy chủ động tham mưu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành 1.096 văn bản, trong đó 11 văn bản về các lĩnh vực trọng tâm; hoàn thành 250 nhiệm vụ, trong đó có 99 nhiệm vụ trọng tâm. Công tác quán triệt, triển khai nghị quyết được thực hiện bằng nhiều hình thức, bảo đảm 100% cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động được tiếp cận những nội dung cơ bản, cốt lõi.
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh cụ thể hóa chủ trương thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ điều hành; chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương bám sát chương trình công tác, kịch bản tăng trưởng và dự toán ngân sách năm 2026. Trong 6 tháng, UBND tỉnh xử lý trên 47.600 văn bản đến, ban hành trên 9.290 văn bản chỉ đạo, điều hành, góp phần đưa các chủ trương, nghị quyết vào tổ chức thực hiện đồng bộ, kịp thời.
Từ chủ trương đến hành động, vai trò lãnh đạo của Đảng ủy UBND tỉnh được thể hiện rõ qua việc cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương và của Tỉnh ủy thành những nhiệm vụ, giải pháp sát thực tiễn, phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm. Một minh chứng rõ nét là trong triển khai sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố năm 2026. Đảng ủy UBND tỉnh đã lãnh đạo UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn kịp thời tham mưu, ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; UBND tỉnh ban hành Phương án tổng thể làm cơ sở để 124 xã, phường xây dựng đề án và tổ chức thực hiện. Toàn tỉnh giảm từ 3.802 xuống còn 1.805 thôn, tổ dân phố, giảm 52,52%; tỷ lệ thôn, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn tăng từ 14,83% lên 93,07%. Đặc biệt, quá trình thực hiện đã phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, với 315.004/316.721 cử tri đại diện hộ gia đình đồng thuận với đề án, đạt 99,46%. Những con số ấy không chỉ cho thấy một chủ trương lớn được triển khai quyết liệt, đồng bộ mà còn cho thấy giá trị của nghị quyết khi được cụ thể hóa thành những việc làm cụ thể, có lộ trình, có kiểm tra, giám sát và lấy sự đồng thuận của Nhân dân làm thước đo.
Với chức năng tham mưu, tổng hợp, phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh đã làm tốt công tác tham mưu đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thể chế hóa thành chương trình công tác, kế hoạch điều hành, văn bản chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể của UBND tỉnh; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc thực hiện, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc phát sinh để tham mưu lãnh đạo tỉnh xem xét, giải quyết.
Tạo lực đẩy từ cơ chế, chính sách

Các đại biểu HĐND tỉnh khóa XX ra mắt, khẳng định trách nhiệm trước cử tri và Nhân dân, góp phần cụ thể hóa nghị quyết bằng những quyết sách sát thực tiễn, vì mục tiêu phát triển và nâng cao đời sống Nhân dân.
Bên cạnh đó, HĐND tỉnh đã phát huy vai trò thể chế hóa chủ trương thành những cơ chế, chính sách cụ thể, tạo hành lang và nguồn lực để người dân, doanh nghiệp cùng tham gia phát triển. Bám sát định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, HĐND tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có những chính sách trực tiếp hỗ trợ các chủ thể ở cơ sở. Điển hình, Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 27/5/2026 về chính sách hỗ trợ phát triển du lịch giai đoạn 2026–2030 không chỉ định hướng phát triển du lịch mà còn mở rộng đối tượng thụ hưởng đến cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư tạo thêm nguồn lực để người dân mạnh dạn đầu tư, doanh nghiệp phát triển sản phẩm, địa phương hoàn thiện hạ tầng và bảo tồn các giá trị văn hóa gắn với du lịch.
Tại các khu, điểm du lịch, Nghị quyết hỗ trợ 100 triệu đồng/homestay xây dựng mới, 40 triệu đồng/homestay sửa chữa; 100 triệu đồng cho mái nhà truyền thống lợp ngói âm dương; 70 triệu đồng/đội văn nghệ dân tộc; 300 triệu đồng cho đầu tư đường dạo bộ và 300 triệu đồng cho hệ thống thu gom rác thải. Những mức hỗ trợ cụ thể này không chỉ bổ sung nguồn lực mà còn khuyến khích người dân gìn giữ kiến trúc, văn hóa bản địa, nâng chất lượng dịch vụ; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp và cộng đồng cùng đầu tư, cùng hưởng lợi từ sự phát triển của du lịch. Góp phần tạo sinh kế, nâng thu nhập cho người dân và huy động nguồn lực xã hội cho du lịch phát triển.
Khi lợi thế địa phương trở thành sinh kế của người dân
Hiệu quả của việc đưa nghị quyết vào cuộc sống được thể hiện rõ nét nhất từ những chuyển biến ở cơ sở, nơi các chủ trương, chính sách được cụ thể hóa thành những việc làm và kết quả cụ thể. Tại Lũng Cú, Đồng Văn, Đường Hồng, Bắc Mê và nhiều địa phương khác, cấp ủy, chính quyền đang lựa chọn những hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế, khai thác lợi thế, tháo gỡ khó khăn và tạo thêm sinh kế cho người dân.
Tại Đồng Văn, với 1.900/4.989 hộ nghèo, chiếm 38,08%, bài toán giảm nghèo không chỉ nằm ở hỗ trợ trực tiếp mà quan trọng hơn là tạo sinh kế bền vững cho người dân. Bám sát định hướng lấy du lịch, dịch vụ làm động lực phát triển, cấp ủy, chính quyền địa phương đã từng bước biến những giá trị sẵn có của Phố cổ Đồng Văn, chợ phiên, cảnh quan Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, văn hóa các dân tộc và các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng thành nguồn lực phát triển kinh tế. Đáng chú ý, Đồng Văn đã chủ trương xây dựng 19 điểm nhấn du lịch mới, gắn phát triển nông nghiệp với du lịch trải nghiệm, từng bước chuyển từ sản xuất đơn thuần sang sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường du lịch. Hiện Đồng Văn có 15 doanh nghiệp và khoảng 90 hộ kinh doanh du lịch, doanh thu ước đạt 385 tỷ đồng/năm; qua đó mở rộng cơ hội việc làm, tạo thêm nguồn thu cho người dân từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, bán sản phẩm địa phương và các dịch vụ trải nghiệm.

Người dân Lô Lô Chải đã phát huy giá trị văn hóa truyền thống, phát triển homestay, dịch vụ du lịch, từng bước biến những giá trị bản địa thành nguồn lực phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, xây dựng thương hiệu "Làng Du lịch tốt nhất thế giới".
Ở Lũng Cú, hiệu quả của hướng đi này càng được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh của hệ sinh thái du lịch cộng đồng. Từ 280 lao động tham gia hoạt động du lịch năm 2023, đến năm 2025 con số này tăng lên 360 người; lượng khách tăng từ 398.000 lên 452.000 lượt, doanh thu du lịch tăng từ 73 tỷ đồng lên 95 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, Lũng Cú đón gần 330.000 lượt khách, khoảng 56.000 lượt khách lưu trú, doanh thu du lịch đạt trên 200 tỷ đồng. Toàn xã hiện có 85 cơ sở lưu trú với khoảng 515 phòng, 11 cơ sở kinh doanh ăn uống, cùng các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thêu dệt truyền thống, OCOP, hàng lưu niệm và dịch vụ trải nghiệm. Những con số ấy cho thấy du lịch đang từng bước chuyển từ lợi thế tự nhiên thành sinh kế thực tế, giúp người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có thêm việc làm và nguồn thu ngay trên quê hương mình.
Theo Anh Sình Dỉ Gai, Trưởng thôn Lô Lô Chải cho biết: Trước đây thôn chúng tôi còn nghèo, chỉ nghĩ làm sao để có thu nhập từ sản xuất nhưng nhờ có chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh, chính quyền địa phương hướng dẫn, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ, người dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, sửa chữa, cải tạo nhà cửa, bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc và các món ăn truyền thống để xây dựng, phát triển và được bình chọn là “Làng du lịch tốt nhất thế giới – Best Tourism Villages”.
Điểm đáng nói là sự chuyển biến không dừng ở số lượng du khách hay doanh thu, mà nằm ở cách người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Từ những ngôi nhà truyền thống được gìn giữ để đón khách, những sản phẩm nông nghiệp được nâng giá trị thông qua du lịch trải nghiệm, đến các món ăn, sản phẩm thủ công, trang phục và hoạt động văn hóa bản địa, ngày càng nhiều giá trị sẵn có được chuyển hóa thành hàng hóa, dịch vụ. Cơ cấu thu nhập của người dân vì thế từng bước chuyển từ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang kết hợp nông nghiệp với thương mại, dịch vụ và du lịch. Đây chính là hiệu quả sâu xa của việc cụ thể hóa nghị quyết “không chỉ tạo ra những con số tăng trưởng, mà mở thêm con đường thoát nghèo bằng chính tiềm năng, bản sắc và sức lao động của người dân địa phương.

Các mô hình phát triển kinh tế mới được cấp ủy, chính quyền xã Đường Hồng triển khai thực hiện nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Ở xã Đường Hồng, việc cụ thể hóa nghị quyết được bắt đầu từ việc lựa chọn những lợi thế và những vấn đề người dân quan tâm để tập trung thực hiện. Thay vì triển khai dàn trải, cấp ủy, chính quyền xã xác định chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập là một trong những hướng đi trọng tâm.
Từ chủ trương ấy, cán bộ chuyên môn được phân công xuống từng thôn, khảo sát điều kiện đất đai, hướng dẫn kỹ thuật, vận động người dân thay đổi những diện tích sản xuất kém hiệu quả. Vụ xuân năm 2026, xã triển khai 15 ha lúa chất lượng cao theo chuỗi liên kết, năng suất đạt 79,5 tạ/ha; 40 ha gừng sẻ lai với 37 hộ tham gia liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp. Đối với cây hồi, toàn xã duy trì 363,2 ha, trong đó 106 ha đã cho thu hoạch, năng suất từ 110 - 120 tạ/ha. Đặc biệt, tại thôn Nà Thấng, 11 hộ đã chuyển 3,6 ha đất trồng ngô kém hiệu quả sang trồng lạc hoa theo hình thức liên kết, bao tiêu sản phẩm; ngay vụ đầu tiên năng suất đạt 16,2 tấn/ha, mở ra khả năng mở rộng diện tích lên 50 ha.
Điều đáng nói ở Đường Hồng không chỉ là những con số về diện tích, năng suất hay giá trị sản phẩm. Đó còn là sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của người dân. Khi cán bộ xuống tận thôn, tận hộ để tuyên truyền, hướng dẫn, giải đáp những băn khoăn; khi doanh nghiệp, hợp tác xã cùng tham gia liên kết, người dân có thêm niềm tin để mạnh dạn thay đổi tập quán sản xuất.
Theo đồng chí Trần Mạnh Tuyên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đường Hồng cho biết: “Để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, chúng tôi xác định trước hết phải lựa chọn đúng hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và lợi ích của người dân. Đường Hồng có đất đai, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, nhưng trước đây sản xuất còn manh mún, giá trị kinh tế chưa cao. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền xã tập trung rà soát, lựa chọn những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, có khả năng phát triển thành sản phẩm hàng hóa để vận động Nhân dân chuyển đổi. Chúng tôi không làm theo phong trào mà lựa chọn từng mô hình để làm thử, đánh giá hiệu quả rồi mới nhân rộng; cán bộ phải xuống tận thôn, tận hộ hướng dẫn, đồng hành cùng người dân. Khi người dân thấy rõ hiệu quả, tự mình thay đổi cách nghĩ, cách làm thì chủ trương mới thực sự bền vững. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao giá trị sản xuất, tăng thu nhập và tạo sinh kế ổn định cho người dân trên chính mảnh đất quê hương mình”.
Từ đó cho thấy: Khi nghị quyết được cụ thể hóa bằng những chủ trương sát thực tiễn, được cấp ủy lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện và người dân đồng thuận tham gia, những lợi thế tưởng như chỉ thuộc về cảnh quan, văn hóa đã trở thành nguồn lực kinh tế. Du lịch phát triển kéo theo dịch vụ, thương mại, nông nghiệp hàng hóa và việc làm phát triển; qua đó tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập và từng bước góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Đây cũng là minh chứng sinh động cho yêu cầu đưa nghị quyết vào cuộc sống bằng những việc làm cụ thể, để thành quả phát triển cuối cùng được đo bằng sự thay đổi trong đời sống của Nhân dân.

Cấp ủy, chính quyền xã Bắc Mê hướng mạnh về cơ sở đã tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhân dân với mục tiêu vì nhân dân phục vụ.
Phát huy vai trò của Nhân dân
Từ những việc làm thiết thực, cụ thể của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên với tinh thần “cầu thị, trọng dân, lấy dân làm gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng”, vai trò chủ thể của Nhân dân ngày càng được phát huy. Không chỉ đồng thuận với các chủ trương, chính sách, người dân đã trực tiếp tham gia bằng những việc làm cụ thể trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào thi đua yêu nước và hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”.
Đặc biệt, trong “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, sức mạnh và tinh thần trách nhiệm của Nhân dân tiếp tục được phát huy. Thông tin từ cựu chiến binh, thân nhân, nhân chứng và người dân từng sống, chiến đấu tại các địa bàn đã góp phần bổ sung, xác minh nhiều dữ liệu quý giá về nơi hy sinh, chôn cất liệt sĩ. Mỗi thông tin đều có thể trở thành manh mối giúp đưa các anh trở về với quê hương, gia đình.
Cùng với đó, tỉnh triển khai cao điểm “60 ngày, đêm” tổng rà soát nhân khẩu, hộ khẩu, quản lý cư trú gắn với làm sạch dữ liệu quốc gia về dân cư và “Chiến dịch 500 ngày đêm”. Hiện toàn tỉnh xác định 24 nghĩa trang với 4.256 phần mộ liệt sĩ, trong đó còn nhiều trường hợp chưa đầy đủ thông tin. Việc huy động Nhân dân cung cấp thông tin vì thế không chỉ góp phần hoàn thiện dữ liệu mà còn thể hiện trách nhiệm, tình cảm của cộng đồng, góp phần “trả lại tên cho các anh”.
Sự tham gia ấy cho thấy, khi chủ trương xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân, được triển khai bằng tinh thần gần dân, sát dân, lắng nghe dân và tạo điều kiện để dân tham gia, thì Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự trở thành chủ thể của quá trình thực hiện. Từ lao động sản xuất, phát triển kinh tế đến chăm lo người có công, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, sức dân được quy tụ, lan tỏa thành nguồn lực quan trọng góp phần đưa các chủ trương, nghị quyết vào cuộc sống.
Đồng lòng cho chặng đường phía trước
Đưa nghị quyết vào cuộc sống không phải là một nhiệm vụ hoàn thành trong một thời điểm mà là quá trình liên tục, từ ban hành chủ trương, cụ thể hóa thành chính sách đến tổ chức thực hiện và kiểm chứng bằng kết quả thực tế.
Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện các nghị quyết, chương trình, kế hoạch đã đề ra; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực hiện các mục tiêu năm 2026 và giai đoạn 2026–2030. Cùng với đó là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp, tăng cường kiểm tra, đối thoại và sâu sát cơ sở; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, nâng cao đời sống và bảo đảm an sinh xã hội.
Đích đến của mọi chủ trương, nghị quyết suy cho cùng vẫn là sự phát triển của quê hương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Vì thế, hành trình đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I vào cuộc sống sẽ tiếp tục được nối dài bằng sự thống nhất trong lãnh đạo, quyết liệt trong tổ chức thực hiện và đồng thuận trong Nhân dân. Khi ý Đảng hòa cùng lòng dân, nghị quyết sẽ tiếp tục được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể, những kết quả cụ thể, tạo động lực để Tuyên Quang phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa những mục tiêu đã xác định trong nhiệm kỳ 2025-2030.
Ngô Hùng – Nguyễn Đoan – Lan Phương
