Những ngày cuối vụ, cây ngô đã ngả màu, lá khô dần lộ những bắp chắc hạt. Xen giữa màu vàng của nương ngô là những mảng cây rừng xanh thẫm và những phiến đá xám dày đặc. Con đường nhỏ chạy qua giữa các triền núi càng làm cho khung cảnh trở nên đặc trưng của vùng cao. Với người đi đường, đó có thể chỉ là một cảnh đẹp bắt gặp trên hành trình. Nhưng với người dân nơi đây, phía sau những nương ngô ấy là cả một mùa lao động.
Cây ngô trên những mảnh đất khó
Đất ở vùng cao không giống những cánh đồng bằng phẳng dưới xuôi. Những khoảng đất có thể canh tác trồng trọt thường nằm xen giữa núi đá, trên các sườn dốc hoặc trong những khe núi. Có những nới nhìn xa xa bằng mắt thường lại chỉ tưởng toàn đá. Ấy vậy mà người dân vẫn tìm được chỗ để tra hạt. Một hạt ngô được đặt xuống đất, gặp mưa, gặp nắng rồi mọc lên. Cây cứ thế lớn dần giữa đá núi, giống như người dân vùng cao kiên cường bám trụ nơi biên cương.
Để có được một nương ngô, người dân phải làm đất, phát cỏ, nhặt đá, gieo hạt rồi chăm sóc trong suốt mùa vụ. Công việc phần lớn dựa vào đôi bàn tay và kinh nghiệm của người làm nương, hoàn toàn không có sự hỗ trợ bằng máy móc hay công nghệ như ở dưới xuôi. Nhìn những triền ngô rộng lớn, ít ai nghĩ rằng phía sau màu xanh, màu vàng của trái ngô ấy là rất nhiều ngày người dân đi lên đi xuống trên những sườn núi dốc, hết mùa này đến mùa khác, hết thế hệ này đến thế hệ sau tạo thành những đường mòn trên núi đá.

Bạt ngàn nương ngô trải dài trên những sườn núi vùng cao, tạo nên sắc xanh đặc trưng của miền đá.
Cây ngô được lựa chọn và gắn bó với vùng cao cũng bởi nó phù hợp với điều kiện sản xuất nơi đây. Khi đất bằng không nhiều, người dân tận dụng những khoảng đất có thể canh tác. Nương ngô vì thế nằm ở nhiều vị trí khác nhau, từ những thung lũng nhỏ đến các triền núi cao.
Có những mùa thuận lợi, cây ngô phát triển tốt, bắp chắc hạt. Nhưng cũng có những năm thời tiết thất thường, mưa lớn, khô hạn hoặc rét ảnh hưởng đến năng suất. Người làm nương gần như năm nào cũng phải trông vào thời tiết.
Một mùa ngô, nhiều công việc
Mùa ngô không chỉ có ngày gieo hạt và ngày thu hoạch. Giữa hai thời điểm ấy là nhiều công việc nối tiếp nhau.
Khi cây còn nhỏ, người dân phải làm cỏ, vun gốc. Đến khi cây lớn, những nương ngô bắt đầu phủ kín các sườn núi. Từ dưới đường nhìn lên, ngoài những phiến đá lô nhô dựng đứng màu xám khói thì chỉ còn thấy màu xanh của cây ngô nối tiếp ngô.

Giữa những dãy núi đá hùng vĩ, các nương ngô trải dài, mang sắc xanh sức sống cho cao nguyên.
Đến cuối vụ, cây ngô chuyển màu. Những chiếc lá xanh dần khô lại, bắp ngô chắc hạt. Đây cũng là lúc người dân có thể thu hoạch. Khác với đồng bào dưới xuôi, người dân vùng cao hầu hết sẽ để bắp trên cây cho khô lại rồi mới đi hái về. Những gia đình có nương ở gần đường có thể dùng xe máy hoặc các phương tiện phù hợp để chở về. Với những mảnh nương nằm sâu trên núi, việc đưa ngô xuống vẫn chủ yếu dựa vào sức người gùi ngô về.
Ngô khi mang về thì không phải phơi nữa, mà có thể cho vào máy tách hạt hoặc tách thủ công bằng tay để sử dụng vào các mục đích khác nhau. Những bắp ngô sau thu hoạch được phơi khô, bảo quản để làm lương thực hoặc phục vụ chăn nuôi. Hạt ngô cũng được xay thành bột để chế biến các món ăn truyền thống. Thân, lá và phần còn lại của cây được tận dụng làm thức ăn cho gia súc hoặc sử dụng vào những công việc khác trong gia đình.
Từ nương ngô đến những món ăn
Nhắc đến cây ngô ở vùng cao, không thể không nhắc đến những món ăn được làm từ hạt ngô. Cây ngô không chỉ là một loại cây trồng trên nương mà nó gắn với bữa ăn, với chăn nuôi và với cách mà người dân sử với những gì mình làm ra từ đất. Với đồng bào Mông, mèn mén là một món ăn quen thuộc. Ngô được xay thành bột, sau đó chế biến theo cách truyền thống. Món ăn không cầu kỳ về nguyên liệu nhưng để làm ngon lại đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm. Trong những căn bếp vùng cao, hạt ngô còn được chế biến thành nhiều món khác nhau. Ngô có thể được luộc, nướng hoặc dùng làm nguyên liệu trong các món ăn của gia đình.
Những câu chuyện về cây ngô cũng thường bắt đầu từ những điều rất giản dị: Năm nay ngô có được mùa không, bắp có chắc hạt không, thu hoạch được bao nhiêu, giá bán thế nào và gia đình sẽ giữ lại bao nhiêu để dùng. Đó là những câu chuyện của cuộc sống, của một mùa vụ mà người dân đã quen thuộc qua nhiều năm.
Màu ngô làm nên cảnh sắc vùng cao
Có một điều dễ nhận thấy khi đi qua các xã vùng cao, đó là cây ngô góp phần tạo nên một diện mạo riêng có của khu vực, một nét văn hóa rất riêng của người vùng Cao nguyên đá. Đối với du khách, đây cũng là một trong những nét văn hóa bản địa gợi nhớ về vùng cao Tuyên Quang.

Du khách trải nghiệm tách ngô – một công việc quen thuộc trong đời sống lao động của đồng bào vùng cao. Ảnh: Facebook Tran Quang Minh
Mỗi bắp ngô trên nương đều gắn với công sức của một mùa vụ, một gia đình. Vì thế, ngắm những nương ngô không chỉ là ngắm cảnh, mà còn là nhìn thấy cách người dân vùng cao thích nghi với điều kiện tự nhiên và duy trì sinh kế qua nhiều thế hệ.
Giữ cây ngô, giữ những câu chuyện của vùng cao
Cuộc sống đang thay đổi. Nhiều loại cây trồng mới có giá trị kinh tế cao hơn được đưa vào sản xuất. Người dân cũng có thêm nhiều lựa chọn về sinh kế. Những con đường mới giúp việc đi lại, vận chuyển nông sản thuận lợi hơn trước. Dù vậy, ở vùng cao, cây ngô vẫn có chỗ đứng riêng. Bởi để thay đổi một loại cây đã gắn bó lâu đời với đời sống người dân không chỉ là câu chuyện về năng suất hay giá bán. Đó còn là câu chuyện về thói quen sản xuất, nguồn thức ăn, tập quán sinh hoạt và những món ăn truyền thống của mỗi gia đình.

Từ những hạt ngô quen thuộc, người dân vùng cao chế biến thành món bánh cuốn ngô độc đáo, ăn kèm nước dùng hầm xương lợn.
Điều cần hướng tới là nâng cao giá trị của cây ngô cùng với việc từng bước chuyển đổi những diện tích không còn phù hợp. Những sản phẩm từ ngô có thể được chế biến, đóng gói, xây dựng thương hiệu và đưa vào các điểm du lịch cộng đồng. Mèn mén, bánh ngô, ngô nướng, riệu ngô, phở ngô, bánh cuốn ngô hay những sản phẩm chế biến từ ngô có thể trở thành một phần trong trải nghiệm của du khách khi đến với vùng cao. Khi ấy, câu chuyện về cây ngô sẽ không dừng lại ở một vụ mùa.
Ngô ở đó, giữa đá và đất, giữa những con đường quanh co và những bản làng nằm khuất sau núi. Mỗi mùa lại một màu. Khi cây còn non là màu xanh mướt. Khi vào vụ, những bắp ngô lớn dần. Đến ngày thu hoạch, cả nương chuyển sang màu vàng, báo hiệu một mùa lao động sắp kết thúc.
Rồi mùa mới lại bắt đầu. Những hạt ngô lại được gieo xuống đất. Cứ thế, năm này qua năm khác, cây ngô vẫn theo người dân lên nương, theo những con đường nhỏ trở về bản và hiện diện trong bữa ăn của mỗi gia đình.
Nhìn những triền ngô bạt ngàn hôm nay, có thể thấy một vùng cao đang đổi thay. Nhưng giữa những đổi thay ấy, màu ngô vẫn ở lại – giản dị, gần gũi và gắn bó với cuộc sống của người dân nơi đây.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
