
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu Quốc dân Đại hội tại Đình Tân Trào (Tranh sơn dầu của họa sĩ Cao Thương).
Ngày 21/05/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng trở về Tuyên Quang để chỉ đạo phong trào Cách mạng cả nước. Người đã chọn xã Tân Trào làm Thủ đô Khu Giải phóng, căn cứ địa Cách mạng. Đến giữa tháng 8/1945, giữa lúc cao trào kháng Nhật cứu quốc đang diễn ra sôi sục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Chỉ thị phải gấp rút triệu tập Quốc dân Đại hội Tân Trào để thành lập Chính phủ lâm thời Cách mạng, lãnh đạo cuộc Cách mạng của Nhân dân Việt Nam. Tại đình Tân Trào, hơn 60 đại biểu đại diện cho các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, các tổ chức cứu quốc trên cả nước đã tề tựu, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.
Những người con ưu tú của dân tộc đã họp bàn, quyết định vận mệnh đất nước trong giờ phút “ngàn cân treo sợi tóc”. Tại nơi đây, ý chí độc lập, khát vọng tự do và quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam đã được kết tinh, thắp lên ngọn lửa Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc.
Tại Đại hội, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh đọc báo cáo trong đó nhấn mạnh hai vấn đề lớn: Tổng khởi nghĩa và bầu Chính phủ cách mạng lâm thời. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương lãnh đạo quần chúng nổi dậy tước vũ khí của Nhật, giành lấy chính quyền. Trên cơ sở đó, Đại hội đã tán thành chủ trương của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, lãnh đạo quần chúng nổi dậy, giành chính quyền từ tay quân Nhật, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam và nhiều chiến lược quan trọng khác của cách mạng Việt Nam.
Đại hội cũng đã thông qua 10 chính sách lớn như: Tiến hành võ trang nhân dân; Tịch thu tài sản của giặc và Việt gian sung công và chia cho dân nghèo… Đặc biệt là chính sách quyết định đem lại quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ và nhiều quyền khác liên quan trực tiếp đến lợi ích của người dân lúc bấy giờ.
Về không khí của Đại hội, đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể lại: “Từ khi về nước, đây là lần đầu tiên Bác tiếp xúc với một Đại hội đại biểu Nhân dân. Hôm ấy, Ban tổ chức (cụ thể là đồng chí Phạm Văn Đồng) giới thiệu Bác là Hồ Chí Minh, một nhà cách mạng lão thành, nhiều đại biểu không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe thấy tên Hồ Chí Minh bao giờ. Một số người cũng đã thì thầm bàn tán về Bác mà người ta gọi là Ông Ké Tân Trào. Mấy đại biểu kháo nhau: Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy. Hồi ấy chưa có tục vỗ tay, nhưng khi nghe giới thiệu Bác, các đại biểu đều rất hân hoan”. Đại hội đang họp thì Đoàn đại biểu nhân dân Tân Trào, gồm cả gái trai, già trẻ đến chào mừng Đại hội. Người chỉ vào các cháu bé gầy gò vàng vọt, nói với các đại biểu: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm, được đi học, không lam lũ thế này mãi”. Câu nói giản dị khiến các đại biểu hết sức cảm động.
Ngày 17/8/1945, Đại hội bế mạc, thay mặt Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của Nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo Nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước”. Thay mặt Ủy ban Dân tộc giải phóng, trong thời khắc quyết liệt và khẩn trương, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước, trong đó có đoạn viết:
Quốc dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa như Hội nghị Diên Hồng thời đại mới, chuẩn bị thế và lực cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, phát đi một thông điệp, hiệu lệnh dẫn dắt toàn bộ cuộc Tổng khởi nghĩa cũng như tạo nền tảng cho định hình thể chế dân chủ cộng hòa. Đây là tiền thân của Quốc hội Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm của toàn dân tộc, và là cơ sở pháp lý đầu tiên cho chính quyền cách mạng khi chưa thể tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội.
Quốc dân Đại hội Tân Trào đã là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thành công của Đại hội chính là kết quả quá trình phát triển của phong trào cách mạng của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng với chủ trương đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh của toàn thể dân tộc nhằm mục tiêu thiêng liêng là giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược và tay sai, giành độc lập và tự do cho Tổ quốc.
Quốc dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa to lớn trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Quốc dân Đại hội Tân Trào đã quyết định thi hành Mười Chính sách của Việt Minh, được coi là “Hiến pháp lâm thời”, thể hiện rõ nét sự linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Mười Chính sách của Việt Minh rất cô đọng, súc tích, nhưng đã bao quát những quyền dân chủ cơ bản của Nhân dân, những phương hướng lớn của nền dân chủ cộng hòa mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ và thực hiện. Quốc dân Đại hội Tân Trào thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một mô hình nhà nước mới được hình thành từ khát vọng độc lập và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Quốc dân Đại hội Tân Trào đã để lại những giá trị to lớn cho hoạt động của Quốc hội hiện nay, đặc biệt là bài học về phát huy ý chí, sức mạnh của dân tộc; đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ chiến lược trong từng giai đoạn lịch sử; thể hiện tinh thần dân chủ và quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền của Dân, do Dân và vì Dân; khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân dân trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Theo Tuyên Quang Online
