
Lãnh đạo xã Kiên Đài cùng người dân livestream giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm địa phương tại lễ ra mắt “Chợ vùng cao Kiên Đài”.
Ở xã Kiên Đài, chuyển đổi số bắt đầu từ những điều gần gũi nhất. Chiếc điện thoại thông minh không chỉ phục vụ liên lạc, giải trí mà đang trở thành công cụ để người dân học hỏi kỹ năng số, quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng và đưa hình ảnh quê hương lên không gian mạng. Từ livestream bán mật ong, măng khô, gạo nếp đến quay video giới thiệu cảnh sắc, văn hóa, cuộc sống bản làng trên TikTok, YouTube, Facebook, người dân từng bước hình thành phương thức kinh doanh mới.
Tại thôn Yên Bình, chị Nguyễn Thị Giang mạnh dạn sử dụng mạng xã hội để giới thiệu, bán các sản phẩm đặc sản của gia đình. Nếu trước đây hàng hóa chủ yếu tiêu thụ tại chợ hoặc qua thương lái thì nay chị có thể trực tiếp giới thiệu sản phẩm, tư vấn, chốt đơn và kết nối khách hàng ở nhiều địa phương. Tại thôn Nà Làng, anh Hà Văn Thế tận dụng điện thoại để ghi lại sản vật, cảnh sắc và đời sống bản làng. Những video ngắn, chân thực vừa quảng bá sản phẩm, vừa lan tỏa hình ảnh quê hương trên không gian số.
Đồng chí Tạ Quốc Hoàn, Phó Chủ tịch UBND xã Kiên Đài cho biết nhiều đoàn viên thanh niên trên địa bàn đang chủ động học hỏi kỹ năng xây dựng nội dung số, từ giới thiệu nông sản gia đình, ghi lại hoạt động cộng đồng đến quảng bá cảnh sắc, văn hóa và nhịp sống bản làng. Việc tổ chức cho thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng học tập kinh nghiệm mô hình “Làng sáng tạo nội dung số” tại xã Lâm Bình mở thêm hướng phát huy sức sáng tạo của người dân, nhất là lực lượng trẻ. Từ quay, dựng video đến livestream, giới thiệu sản phẩm và cảnh đẹp quê hương, người trẻ đang từng bước biến những điều bình dị thành nội dung có sức lan tỏa. Trên không gian số, mỗi video về ruộng đồng, mỗi phiên livestream hay câu chuyện về nghề truyền thống đều có thể trở thành một “đại sứ số”, đưa hình ảnh địa phương đến gần hơn với khách hàng, du khách và cộng đồng ở nhiều nơi.
Tại xã Tân An, mô hình “Chi hội số” được triển khai ở thôn Nà Khán với 38/94 thành viên tham gia. Thông qua các nhóm Zalo, Facebook, cán bộ Hội cập nhật thông tin về chủ trương, chính sách, phong trào thi đua; đồng thời hướng dẫn hội viên tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và các kỹ năng sử dụng nền tảng số. Theo đồng chí Ma Thị Hiếu, Chủ tịch Hội LHPN xã Tân An, trước đây hoạt động của Hội chủ yếu thông qua các cuộc họp trực tiếp, mất nhiều thời gian, nhất là đối với những hội viên đi làm xa. Khi triển khai “Chi hội số”, việc truyền tải thông tin nhanh hơn, tương tác giữa cán bộ Hội và hội viên thuận lợi hơn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động Hội ở cơ sở.
Chị Bàn Thị Giàng, ở thôn Tân Cường, xã Tân An, là một ví dụ. Nhờ bán hàng trên Facebook, TikTok, có tháng gia đình chị bán hơn 20 bộ trang phục dân tộc Dao, với giá từ 6-7 triệu đồng/bộ. Sản phẩm không chỉ được tiêu thụ tại thị trường quen thuộc mà còn được khách hàng ở nhiều tỉnh, thành phố đặt may theo số đo riêng và gửi qua dịch vụ vận chuyển. Với chị Giàng, mạng xã hội không chỉ là nơi giao lưu, chia sẻ thông tin mà đã trở thành một kênh bán hàng hiệu quả. Từ một sản phẩm truyền thống được làm thủ công, nay trang phục Dao có thể tìm thấy khách hàng ở những địa phương cách xa hàng trăm km.
Tại thôn Phiêng Luông, xã Bình An, chị Phùng Thị Mùi cũng tận dụng mạng xã hội để giới thiệu và bán sản phẩm của gia đình. Việc đưa sản phẩm lên các nền tảng trực tuyến giúp gia đình mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng, giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống và tạo thêm nguồn thu nhập.

Các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng học tập kinh nghiệm mô hình “Làng sáng tạo nội dung số” tại xã Lâm Bình.
Đồng chí Triệu Thị Tình, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN tỉnh cho biết thời gian tới, các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ hội viên nâng cao kỹ năng số, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng công nghệ phát triển kinh tế. Hội chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình phù hợp với từng địa phương.
Hiện toàn tỉnh có hơn 200 nghìn hội viên được tiếp cận công nghệ; 100% Hội LHPN các cấp duy trì nhóm Zalo, fanpage; gần 80 mô hình “Chi hội số”, 128 “Cơ sở Hội số”, 201 “Gia đình số”, 6 câu lạc bộ “Chi hội số” và 2 “Tổ phụ nữ kinh doanh số”. Thời gian tới, các cấp Hội tăng cường tập huấn kỹ năng số, tuyên truyền an toàn mạng, phòng ngừa lừa đảo công nghệ cao, phát huy vai trò cán bộ Hội với tinh thần “Mỗi cán bộ Hội là một công dân số”.
Những chuyển biến từ cơ sở đang được tiếp sức bởi hệ thống hạ tầng và các chương trình chuyển đổi số được tỉnh triển khai đồng bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Hiến, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, cho biết chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị là định hướng xuyên suốt, được cụ thể hóa tại Kế hoạch số 178/KH-UBND ngày 7/5/2026. Trọng tâm là thay đổi nhận thức, hành vi, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, sự hài lòng làm thước đo.
Sau 7 tháng, 22 lớp tập huấn được tổ chức tại 53 xã, phường, thu hút 1.808 cán bộ, công chức, viên chức và 2.833 thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai rộng khắp với 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng tại 100% xã, phường, thôn, tổ dân phố. Hạ tầng viễn thông tiếp tục được đầu tư, với 3.130 trạm BTS, trong đó có 593 trạm 5G; 100% trung tâm xã, phường được phủ internet cáp quang.
Mục tiêu năm 2026, kinh tế số đóng góp 7,71% GRDP. Quan trọng hơn, công nghệ đang từng bước trở thành công cụ thiết thực để người dân học hỏi, kết nối, quảng bá sản phẩm, tìm kiếm khách hàng và mở rộng sinh kế. Từ chiếc điện thoại thông minh đến những phiên livestream nông sản, chuyển đổi số đang mở thêm cơ hội để sản vật và câu chuyện vùng cao vươn xa.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
