
Theo Đề án, việc xác định Chỉ số CCHC được thực hiện theo hướng đa chiều, kết hợp giữa đánh giá định lượng và định tính; giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ với tác động, hiệu quả của CCHC. Đồng thời, kết hợp kết quả tự đánh giá của cơ quan, đơn vị, địa phương với kết quả thẩm định, đánh giá độc lập và ý kiến của người dân, tổ chức về chất lượng phục vụ. Kết quả CCHC hằng năm được xác định, so sánh và xếp hạng trên cơ sở bộ tiêu chí thống nhất, bảo đảm công bằng, minh bạch và phù hợp thực tiễn. Đề án áp dụng đối với các sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh và UBND xã, phường; hình thành hệ thống theo dõi, đánh giá đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp xã. Việc đánh giá đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch, khách quan và tổ chức xác định, công bố Chỉ số CCHC hằng năm.
Đối với các sở, ban, ngành, bộ tiêu chí xác định Chỉ số CCHC được cấu trúc thành 8 lĩnh vực, 42 tiêu chí và 80 tiêu chí thành phần, gồm: công tác chỉ đạo, điều hành CCHC; cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công; chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước và tác động của CCHC đến người dân, tổ chức. Thang điểm đánh giá là 100 điểm, trong đó 68 điểm đánh giá kết quả thực hiện công tác CCHC và 32 điểm thông qua điều tra xã hội học.
Đối với UBND xã, phường, bộ tiêu chí gồm 8 lĩnh vực, 41 tiêu chí và 86 tiêu chí thành phần. Tập trung vào công tác chỉ đạo, điều hành CCHC; cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công, chuyển đổi số và tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và phát triển kinh tế. Thang điểm cũng được xác định là 100 điểm, gồm 68 điểm đánh giá thực hiện CCHC và 32 điểm qua điều tra xã hội học.
Kết quả Chỉ số CCHC của các sở, ban, ngành và UBND xã, phường được xếp hạng từ cao xuống thấp và phân thành 5 mức: Xuất sắc từ 90% trở lên; Tốt từ 80% đến dưới 90%; Khá từ 70% đến dưới 80%; Trung bình từ 50% đến dưới 70%; Kém dưới 50%. Trường hợp có số điểm bằng nhau được xếp đồng hạng. Điểm đáng chú ý của Đề án là quy định cụ thể việc xác định Chỉ số CCHC đối với cơ quan, đơn vị, địa phương có thay đổi về tổ chức bộ máy như hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể hoặc thành lập mới. Việc đánh giá phải bảo đảm tính kế thừa, liên tục, khách quan, công bằng; không bỏ sót, không tính trùng kết quả và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, đơn vị, địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, lưu trữ và cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu, dữ liệu kiểm chứng trước khi tổ chức bộ máy thay đổi.
Để nâng cao hiệu quả triển khai, Đề án đề ra các nhóm giải pháp trọng tâm như nâng cao trách nhiệm, hiệu quả chỉ đạo, điều hành; tăng cường tuyên truyền, phổ biến về Chỉ số CCHC; nâng cao chất lượng theo dõi, đánh giá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và bảo đảm nguồn lực cho công tác xác định Chỉ số CCHC. Tỉnh xây dựng, hoàn thiện phần mềm quản lý, chấm điểm CCHC và cơ sở dữ liệu về Chỉ số CCHC, đồng thời nghiên cứu các hình thức điều tra xã hội học phù hợp để thu thập ý kiến đánh giá của người dân, tổ chức.
Sở Nội vụ là cơ quan chủ trì triển khai Đề án, có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức tự đánh giá, điều tra xã hội học, thẩm định kết quả, tổng hợp và công bố Chỉ số CCHC hằng năm sau khi được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Các sở, ban, ngành và UBND xã, phường có trách nhiệm tổ chức tự đánh giá, phối hợp điều tra xã hội học và công khai kết quả tự đánh giá, báo cáo Chỉ số CCHC để người dân, tổ chức giám sát.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 08/10/2025 của UBND tỉnh về việc ban hành Bộ tiêu chí và quy trình xác định Chỉ số CCHC của các sở, ban, ngành và UBND xã, phường trên địa bàn tỉnh.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
