
Ảnh minh họa.
Kế hoạch hướng tới nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, địa phương, doanh nghiệp và Nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của công nghệ sinh học; huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp để phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của các sản phẩm chủ lực, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương.
Theo mục tiêu đề ra đến năm 2030, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh tăng bình quân trên 3%/năm; trên 60% giá trị nông sản được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt hoặc tương đương; tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt trên 30%; tổng diện tích đất trồng hữu cơ đạt trên 2% diện tích cây trồng chủ lực; phấn đấu hình thành ít nhất 1 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Cùng với đó, trên 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù của tỉnh được bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ; hỗ trợ tối thiểu 120 lượt tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý tiên tiến; triển khai từ 5 đến 7 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh về công nghệ sinh học giai đoạn 2026 - 2030.
Tầm nhìn đến năm 2045, Tuyên Quang phấn đấu trở thành địa phương có nền công nghệ sinh học phát triển khá, là trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm khá trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc.
Để thực hiện mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trọng tâm là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức; xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; đa dạng hóa, huy động nguồn lực đầu tư; thúc đẩy chuyển đổi số và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỉnh tập trung ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn, khai thác, phát triển nguồn gen cây trồng, vật nuôi; sản xuất giống, phòng trừ dịch bệnh; xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực; phát triển mô hình kinh tế dưới tán rừng đối với dược liệu, nấm; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp, ứng dụng phân hữu cơ, thuốc sinh học, quản lý dịch hại tổng hợp, hướng tới xây dựng các mô hình sản xuất có khả năng chứng nhận tín chỉ các-bon.
Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, tỉnh chú trọng ứng dụng công nghệ sinh học trong chế biến nông, lâm sản; phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng cao; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đổi mới công nghệ, nhân rộng mô hình ứng dụng hiệu quả, nâng cao giá trị thương hiệu các sản phẩm OCOP, sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Ở lĩnh vực y dược, xác định đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn, phát triển dược liệu quý, xây dựng thương hiệu dược liệu địa phương; đồng thời ứng dụng công nghệ sinh học trong xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị bệnh, kiểm soát an toàn thực phẩm, xử lý chất thải y tế.
Trong bảo vệ môi trường, tỉnh nghiên cứu, chuyển giao các giải pháp công nghệ sinh học phục vụ xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường tại khu vực khai thác khoáng sản, cơ sở chăn nuôi tập trung; nhân rộng mô hình sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tái chế chất thải, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Kế hoạch nhấn mạnh nhiệm vụ thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghệ sinh học thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa thông tin nguồn gen, hỗ trợ thương mại điện tử, nền tảng số trong sản xuất, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm; đồng thời tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước nhằm tiếp nhận, chuyển giao thành tựu mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
UBND tỉnh giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện Kế hoạch; các sở, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ chủ động cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ vào kế hoạch hằng năm, phối hợp tổ chức thực hiện hiệu quả.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
