
Khu sản xuất tại Nhà máy may MSA YB Tuyên Quang.
Theo Đề án, Tuyên Quang phấn đấu đến năm 2030 tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 20%, so với mức 7,39% năm 2025 và mục tiêu 7,71% năm 2026. Cùng với đó, tối thiểu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số thường xuyên trong quản trị, sản xuất hoặc kinh doanh; ít nhất 5% số hộ gia đình duy trì hoạt động tạo thu nhập hợp pháp gắn với công nghệ số, nền tảng số, dữ liệu số hoặc giao dịch số.
Một mục tiêu đáng chú ý là 100% xã, phường lựa chọn, xây dựng hoặc tham gia ít nhất một mô hình kinh tế số phù hợp với tiềm năng, lợi thế và điều kiện thực tế. Các mô hình phải có chủ thể, sản phẩm hoặc dịch vụ, quy trình số, giao dịch và minh chứng kết quả; hằng năm lựa chọn những mô hình hiệu quả để đánh giá, truyền thông và nhân rộng.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sản phẩm OCOP, tỉnh đặt mục tiêu duy trì 100% sản phẩm OCOP còn hiệu lực có mã QR truy xuất nguồn gốc hoạt động, thông tin được cập nhật; đồng thời 100% sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và sản phẩm chủ lực đủ điều kiện được chuẩn hóa thông tin số, có kênh quảng bá hoặc giao dịch. Đề án cũng định hướng số hóa vùng sản xuất, vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, lô rừng, mùa vụ, sản lượng, chất lượng; ứng dụng nhật ký điện tử, cảm biến, dữ liệu viễn thám và các công cụ dự báo phù hợp.
Đối với du lịch, văn hóa và dịch vụ, 100% khu, điểm du lịch trọng điểm, làng văn hóa du lịch cộng đồng và cơ sở du lịch đủ điều kiện sẽ được số hóa thông tin; mở rộng các kênh đặt dịch vụ, thanh toán và tiếp nhận phản hồi trên môi trường số. Tỉnh chuẩn hóa dữ liệu về điểm đến, cơ sở lưu trú, lữ hành, ăn uống, mua sắm, vận chuyển và trải nghiệm; phát triển bản đồ số, thuyết minh số, mã QR điểm đến, trợ lý ảo và các mô hình du lịch cộng đồng số, homestay ứng dụng số, điểm đến số. Thương mại điện tử và logistics được xác định là một trong những hướng ưu tiên nhằm mở rộng thị trường cho sản phẩm địa phương. Đề án chuyển trọng tâm từ việc đưa sản phẩm lên môi trường số sang hình thành các kênh bán hàng thực sự phát sinh giao dịch, hỗ trợ chủ thể quản lý gian hàng, đơn hàng, khách hàng, chăm sóc sau bán hàng và bán hàng đa kênh. Các sản phẩm OCOP, nông sản, lâm sản, sản phẩm chế biến, đặc sản và sản phẩm du lịch được kết nối với các sàn thương mại điện tử, nền tảng cung - cầu và hệ thống phân phối trong, ngoài tỉnh. Cùng với đó, phát triển dịch vụ logistics phù hợp đặc điểm địa bàn miền núi, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong vận tải, kho bãi, truy xuất nguồn gốc hàng hóa; từng bước xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu logistics, phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến và phân phối hàng hóa.
Đề án cũng đặt mục tiêu 100% Tổ công nghệ số cộng đồng có ít nhất một thành viên được cập nhật kỹ năng hỗ trợ kinh tế số, đồng thời hình thành mạng lưới tư vấn, kèm cặp số tại cơ sở. Mỗi xã, phường có thể lựa chọn từ 1 đến 3 thành viên nòng cốt để hỗ trợ các hộ theo chu kỳ từ 3 đến 6 tháng, từ đánh giá nhu cầu, lựa chọn công cụ, hướng dẫn thực hành đến hỗ trợ phát sinh giao dịch và đánh giá kết quả. Một điểm mới được nhấn mạnh trong Đề án là thay đổi cách đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế số. Tỉnh không lấy số lượng tài khoản, mã QR, gian hàng hay lượt tập huấn làm kết quả chủ yếu nếu không phát sinh hoạt động kinh tế thực chất. Thay vào đó, các nhiệm vụ phải được đánh giá bằng dữ liệu, giao dịch, doanh thu, năng suất, chất lượng, thị trường, thu nhập và mức giảm chi phí. Việc triển khai được thực hiện theo phương châm “làm điểm, làm nhỏ, làm chắc, làm bền vững, nhân rộng”, gắn với yêu cầu “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Đề án yêu cầu trong năm 2026 xác định các số liệu nền còn thiếu; chậm nhất quý IV/2026, cơ quan thống kê tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ cùng các sở, ngành xây dựng lộ trình theo dõi mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GRDP vào năm 2030. Hằng năm, kết quả thực hiện sẽ được theo dõi trên cơ sở số liệu chính thức, làm căn cứ điều chỉnh nhiệm vụ, giải pháp phù hợp. Với việc tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp, lâm nghiệp, OCOP, công nghiệp chế biến, thương mại điện tử, logistics, du lịch và văn hóa; đồng thời phát triển hạ tầng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thanh toán số và nguồn nhân lực, Đề án hướng tới tạo chuyển biến rõ nét trong phương thức sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Qua đó, kinh tế số từng bước trở thành động lực mới, góp phần mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân trên địa bàn tỉnh.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
