
Chăn nuôi bò bản địa H’Mông đang phát triển mạnh tại Tuyên Quang.
Theo Kế hoạch, năm 2026 tỉnh Tuyên Quang tập trung phát triển các loại vật nuôi chủ lực, đặc hữu và có lợi thế như trâu, bò vàng, bò sữa, lợn bản địa, lợn ngoại, dê, gia cầm và ong mật, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, khu vực và từng bước hướng tới thị trường ngoài tỉnh, xuất khẩu. Cùng với đó là mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Cụ thể, tỉnh phấn đấu duy trì đàn trâu trên 217 nghìn con; đàn bò vàng trên 172 nghìn con, trong đó bò vàng vùng cao đạt trên 110 nghìn con; đàn bò sữa trên 7 nghìn con. Đàn lợn đạt trên 1,2 triệu con, gia cầm trên 14 triệu con, dê trên 214 nghìn con, ong trên 118 nghìn đàn. Sản lượng thịt hơi ước đạt khoảng 194 nghìn tấn, sữa tươi trên 47 nghìn tấn, mật ong 831 tấn. Giá trị sản xuất chăn nuôi phấn đấu đạt 7.879 tỷ đồng, trong đó chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 50%.
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Kế hoạch xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm gắn với những giải pháp cụ thể, đồng bộ. Trước hết, tỉnh tập trung duy trì, phát triển đàn vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và liên kết chuỗi. Đàn trâu tiếp tục được phát triển thông qua các mô hình nuôi trâu sinh sản, trâu thịt vỗ béo gắn với thị trường tiêu thụ ổn định. Đối với bò sữa, tỉnh định hướng phát triển quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi, phối giống và quản lý đàn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sữa. Đàn bò vàng được bảo tồn, cải tạo giống và phát triển tại các vùng có điều kiện phù hợp, gắn với xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý.
Cùng với đó, chú trọng phát triển chăn nuôi lợn bản địa tại các xã vùng núi cao, bảo tồn các giống lợn đen quý, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ chăn nuôi, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Chăn nuôi lợn ngoại, lợn lai được định hướng phát triển theo mô hình trang trại, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ. Chăn nuôi gia cầm, dê và ong lấy mật được khuyến khích phát triển theo hướng trang trại, hàng hóa, khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên và thảm thực vật của địa phương.
Kế hoạch nhấn mạnh nhiệm vụ cải tạo, nâng cao chất lượng giống vật nuôi. Đẩy mạnh ứng dụng thụ tinh nhân tạo đối với trâu, bò; sử dụng tinh đông lạnh của các giống có năng suất, chất lượng cao để cải thiện tầm vóc, chất lượng đàn vật nuôi. Song song với đó là công tác bảo tồn nguồn gen quý, nghiên cứu chọn tạo giống mới phù hợp với điều kiện địa phương, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành chăn nuôi và nâng cao thu nhập cho người dân.
Một nội dung quan trọng khác là phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, an toàn sinh học và nông nghiệp tuần hoàn. Khuyến khích đầu tư hệ thống chuồng trại hiện đại, ứng dụng công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học trong xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Các mô hình chăn nuôi khép kín, chăn nuôi không tiếp xúc, sử dụng biogas, đệm lót sinh học, men vi sinh được nhân rộng nhằm bảo đảm an toàn dịch bệnh, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.
Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tỉnh định hướng phát triển mạnh chăn nuôi các sản phẩm đặc sản, bản địa có giá trị kinh tế cao như bò vàng, mật ong bạc hà, lợn đen, gà xương đen, gà lông xước, vịt địa phương. Các sản phẩm này được gắn với xây dựng thương hiệu, chứng nhận OCOP, chỉ dẫn địa lý và quảng bá trên các kênh truyền thông, sàn thương mại điện tử, hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.
Cùng với phát triển sản xuất, tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm nguồn thức ăn cho chăn nuôi. Các giải pháp được triển khai bao gồm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến để làm thức ăn cho vật nuôi; phát triển vùng trồng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi; hướng dẫn kỹ thuật ủ chua, chế biến, bảo quản thức ăn nhằm chủ động nguồn cung, giảm chi phí sản xuất và hạn chế phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp.
Công tác phòng, chống dịch bệnh và thiên tai được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt. Tăng cường tiêm phòng vắc xin, kiểm soát vận chuyển, giết mổ động vật; chủ động theo dõi, dự báo tình hình dịch bệnh, thời tiết để kịp thời cảnh báo và hướng dẫn người dân các biện pháp phòng, chống rét, nắng nóng, mưa lũ cho đàn vật nuôi. Việc xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, áp dụng quy trình VietGAHP, chăn nuôi hữu cơ được đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
Kế hoạch đề ra các giải pháp về chính sách, nguồn vốn, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực. Trong đó, tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Trung ương và địa phương; lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý đàn vật nuôi, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, kết nối cung - cầu được xác định là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tiếp cận thị trường.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch; định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả và kịp thời tham mưu điều chỉnh phù hợp với thực tiễn. Các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi chủ động, tích cực tham gia, bảo đảm Kế hoạch phát triển chăn nuôi năm 2026 được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần đưa ngành chăn nuôi Tuyên Quang phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
