Trong những năm gần đây, hạ tầng viễn thông của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng nhu cầu kết nối phục vụ chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Tính đến đầu năm 2026, toàn tỉnh có 3.107 vị trí trạm BTS (trong đó 4G chiếm ưu thế với 3.104 trạm, đồng thời đã triển khai 593 trạm 5G, tương đương khoảng 19,2% số trạm 4G). Tốc độ tải xuống trung bình của mạng di động đạt 74,86 Mbps, tăng gấp đôi so với năm 2024.
Hạ tầng cáp quang tiếp tục được mở rộng với 100% trung tâm xã, phường đã được phủ sóng, tạo điều kiện để triển khai các dịch vụ băng rộng cố định tốc độ cao (≥1 Gbps). Đồng thời, hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng và hội nghị truyền hình trực tuyến đã được đầu tư đồng bộ đến cấp xã, phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành.

Tỉnh đang nỗ lực triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hạ tầng, đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ số cho toàn bộ người dân.
Tuy nhiên, hạ tầng số vẫn còn tồn tại những hạn chế đáng kể, đặc biệt là sự chênh lệch giữa khu vực trung tâm và vùng sâu, vùng xa. Toàn tỉnh hiện còn 272 thôn, bản tồn tại tình trạng lõm sóng, trong đó 91 thôn chưa có sóng di động. Tỷ lệ ngầm hóa cáp còn thấp (11,9%), hạ tầng cống bể cáp xuống cấp, và mức độ chia sẻ hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông chưa cao.
Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hạ tầng, đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ số cho toàn bộ người dân.
Trên cơ sở các kế hoạch phát triển hạ tầng số giai đoạn 2025–2030, tỉnh Tuyên Quang xác định năm 2026 là năm bản lề để thúc đẩy phổ cập công nghệ 5G. Tỉnh đề ra các mục tiêu: Mở rộng vùng phủ 5G có trọng điểm: Triển khai tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ quan nhà nước, cơ sở giáo dục và các khu du lịch trọng điểm; Đảm bảo 100% trung tâm xã, phường được tiếp cận dịch vụ 5G; Phấn đấu tỷ lệ trạm 5G đạt tối thiểu 30% so với tổng số trạm BTS 4G; Tốc độ tải xuống trung bình của mạng di động tiếp tục được cải thiện, hướng tới đáp ứng các dịch vụ số yêu cầu băng thông lớn như IoT, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI).
Song song với việc mở rộng 5G, tỉnh cũng triển khai lộ trình dừng công nghệ 2G nhằm tái phân bổ tài nguyên tần số, tối ưu hóa hiệu quả khai thác và giảm chi phí vận hành mạng lưới.
Cùng với đó, để xử lý triệt để các khu vực chưa có hoặc có chất lượng sóng yếu, tỉnh sẽ thường xuyên rà soát, cập nhật vùng lõm sóng; tập trung phủ sóng cho 91 thôn chưa có sóng và hơn 180 thôn có vùng phủ chưa ổn định; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các nhà mạng lớn như Viettel, VNPT trong triển khai hạ tầng tại khu vực khó khăn... Mục tiêu đặt ra là phủ sóng di động băng rộng đạt 96% số thôn trên toàn tỉnh. Ngoài ra, tỉnh sẽ ngầm hóa hạ tầng cáp viễn thông tại khu vực đô thị nhằm đảm bảo mỹ quan và an toàn. Ứng dụng thiết kế cột ăng-ten ngụy trang tại khu du lịch, khu dân cư. Tích hợp hạ tầng IoT trong quản lý đô thị, năng lượng và môi trường tại các khu công nghiệp và trung tâm xã.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, tỉnh Tuyên Quang định hướng thúc đẩy mạnh mẽ việc dùng chung hạ tầng viễn thông giữa các doanh nghiệp. Mục tiêu trong năm 2026 là đạt tỷ lệ dùng chung vị trí trạm BTS tối thiểu 16%, tiến tới 40% trong giai đoạn sau.
Với định hướng rõ ràng và lộ trình cụ thể, Tuyên Quang đang từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng số hiện đại, đồng bộ. Năm 2026 không chỉ là giai đoạn mở rộng vùng phủ mà còn đánh dấu bước chuyển sang nâng cao chất lượng và phổ cập dịch vụ, trong đó 5G giữ vai trò then chốt.
Việc phủ sóng rộng khắp và xóa bỏ “vùng lõm” không chỉ giúp người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ số mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực, tạo động lực để Tuyên Quang bứt phá trong kỷ nguyên số.
Ban Biên tập Cổng TTĐT tỉnh
