Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tỉnh đã từng bước định hướng phát triển các công nghệ chiến lược, tập trung vào công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghệ số. Cùng với đó, định hướng phát triển các cụm công nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; triển khai Đề án đô thị thông minh, bước đầu vận hành hệ thống IOC tích hợp một số lĩnh vực như dịch vụ công, giao thông, du lịch, y tế, giáo dục. Các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trên địa bàn tiếp tục được củng cố, nâng cao năng lực. Mối liên kết “3 Nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) được tăng cường, tạo cầu nối đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 5 doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã được cấp giấy chứng nhận. Các doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; chủ động hoàn thiện quy trình công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và tham gia các chương trình hỗ trợ của tỉnh về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Công ty TNHH Thành Sơn (phường Hà Giang 1) là doanh nghiệp khoa học công nghệ tiên phong tại địa phương trong việc ứng dụng kỹ thuật vào chế biến chè. Quy trình sản xuất được duy trì nghiêm ngặt: Chè được hái ban ngày, chế biến ngay trong đêm để giữ độ tươi. Các công nghệ hiện đại như máy diệt khuẩn đầu vào, sấy lạnh cũng được áp dụng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Bà Phạm Thị Minh Hải, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thành Sơn cho biết: Nhờ ứng dụng khoa học công nghệ, doanh nghiệp giảm 25% năng lượng tiêu thụ, tăng 20-30% năng suất lao động, giảm lỗi sản phẩm xuống dưới 5% và rút ngắn chu kỳ sản xuất đến 30%.

Học sinh Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn nghiên cứu, lắp ráp công nghệ thông qua phòng học STEM.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh, việc triển khai Nghị quyết 57 trên địa bàn tỉnh được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục có chuyển biến tích cực, từng bước đi vào chiều sâu. Các nhiệm vụ cơ bản bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bước đầu hình thành, chuyển đổi số được thúc đẩy. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) thuộc nhóm khá của khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Cùng với đó, hạ tầng số, nền tảng được quan tâm đầu tư; dịch vụ công trực tuyến từng bước nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Công tác chuyển đổi số trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục, thuế tiếp tục được đẩy mạnh; xã hội số có bước phát triển; các hệ thống phần mềm phục vụ công tác chuyên môn dần được nâng cấp, đáp ứng yêu cầu.
Đến hết quý I/2026, toàn tỉnh có 3.107 vị trí trạm BTS với 5.722 trạm đang hoạt động. 100% trung tâm xã, phường đã có hạ tầng cáp quang; mạng truyền số liệu chuyên dùng được triển khai đến 100% cơ quan, địa phương; 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Đặc biệt, Tuyên Quang đã tạo ra cuộc vận động toàn dân học tập kỹ năng số thông qua phong trào "Bình dân học vụ số" với hơn 3.900 tổ công nghệ số cộng đồng được thành lập, hơn 20.250 thành viên hỗ trợ người dân tại cơ sở; 100% sản phẩm OCOP hiện diện trên các sàn thương mại điện tử; 100% cơ sở y tế khám, chữa bệnh bằng căn cước công dân trên VNeID…

Đội hình thanh niên tình nguyện hỗ trợ người dân tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Nông Tiến.
Theo lộ trình năm 2026, Tuyên Quang tiếp tục thực hiện chuyển đổi số trên 3 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số với 24 chỉ tiêu cụ thể. Trong đó, tỉnh phấn đấu duy trì 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến toàn trình; nâng tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến lên trên 95%; 100% cơ quan nhà nước sử dụng hoàn toàn văn bản điện tử trong trao đổi công việc; 100% hệ thống thông tin được phê duyệt và triển khai đầy đủ phương án bảo đảm an toàn theo cấp độ.
Trong lĩnh vực kinh tế số, xã hội số, tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 75%; 100% doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử; tiếp tục mở rộng thương mại điện tử; phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người dân, duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ công nghệ số cộng đồng; mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, dịch vụ công…
Theo đồng chí Phạm Ninh Thái, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục rà soát, cụ thể hóa nhiệm vụ, xác định lộ trình, sản phẩm, trách nhiệm; tập trung nguồn lực triển khai nhiệm vụ trọng tâm, đột phá.
Trong đó, tập trung rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút nguồn lực, thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa kết quả; ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới (AI, Big Data, IoT) trong lĩnh vực trọng điểm; nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị; nâng cao năng lực đội ngũ, gắn nghiên cứu với thực tiễn.
Đồng thời, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, tổ chức ươm tạo, kết nối đầu tư; nâng cấp hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối, an toàn, phục vụ chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; thúc đẩy chuyển đổi số doanh nghiệp, thương mại điện tử; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho người dân; mở rộng tiếp cận dịch vụ số; thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến…
Ban biên tập Cổng TTĐT tỉnh
