
Cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Tuyên Quang tích cực tuyên truyền ứng dụng công nghệ số đến người dân trên địa bàn
Lấy người dân làm trung tâm của chuyển đổi số
Trong tiến trình đổi mới và phát triển, Tuyên Quang xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để nâng cao năng suất, hiệu quả quản lý và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh đang cụ thể hóa các mục tiêu chuyển đổi số bằng những nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn, trong đó lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy dữ liệu làm nền tảng và lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo.
Chiến lược chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030 đặt mục tiêu xây dựng tỉnh phát triển khá, toàn diện, bền vững, có mức thu nhập trung bình cao trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ trên nền tảng chuyển đổi số toàn diện. Đến năm 2030 kinh tế số phấn đấu chiếm 24% GRDP; tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 99%; 100% người dân có khả năng truy cập băng rộng cố định tốc độ trên 1 Gbps. Đặc biệt, tỉnh hướng tới 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết không phụ thuộc địa giới hành chính, tạo thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện hơn.
Cùng với đầu tư, hoàn thiện hạ tầng và các nền tảng số, Tuyên Quang xác định phát triển công dân số là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả và tính bền vững của quá trình chuyển đổi số. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP ngày 9/7/2026 của Chính phủ về phát triển công dân số trên địa bàn tỉnh, nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Theo đó, tỉnh đẩy mạnh tích hợp các giấy tờ, thông tin thiết yếu trên VNeID, nâng tỷ lệ kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2 và khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Từ ngày 15/8/2026, tỉnh áp dụng chính sách miễn 100% phí và lệ phí đối với nhiều thủ tục hành chính thực hiện trực tuyến, tạo điều kiện thuận lợi để người dân từng bước chuyển sang giao dịch trên môi trường số.
“Cầm tay chỉ việc” để người dân làm chủ công nghệ
Từ yêu cầu thực tiễn, phong trào “Bình dân học vụ số” được tỉnh Tuyên Quang triển khai sâu rộng theo hướng thiết thực, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn và từng nhóm đối tượng. Các địa phương không chỉ tập trung tuyên truyền về vai trò, lợi ích của chuyển đổi số mà chú trọng hướng dẫn trực tiếp, giúp người dân từng bước hình thành kỹ năng và chủ động thực hiện các thao tác số trên thiết bị cá nhân.

Nhờ chuyển đổi số, người dân vùng cao từng bước tiếp cận công nghệ, sử dụng điện thoại thông minh để tra cứu thông tin và thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Đối với người trẻ, cài đặt một ứng dụng, quét mã QR hay tạo tài khoản trực tuyến là những thao tác đơn giản. Nhưng với người cao tuổi, người ít tiếp xúc với công nghệ hoặc người dân ở vùng sâu, vùng xa, đây có thể là những trở ngại không nhỏ. Nhiều người có điện thoại thông minh nhưng chủ yếu sử dụng để nghe, gọi; e ngại cung cấp thông tin cá nhân, không nhớ mật khẩu hoặc sợ thao tác sai.
Tại cơ sở, các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng phát huy vai trò tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận và sử dụng các nền tảng, dịch vụ số. Từ kết nối mạng, cài đặt ứng dụng, tạo tài khoản, tra cứu thông tin, người dân được hướng dẫn từng bước sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử và các kỹ năng bảo vệ thông tin cá nhân. Cách làm được thực hiện theo hướng người hướng dẫn làm mẫu, người dân trực tiếp thực hành và được sửa ngay khi thao tác chưa đúng. Chính sự kiên trì, trực tiếp và sát thực tế này đang giúp công nghệ trở nên dễ hiểu hơn, từng bước xóa bỏ tâm lý e ngại của người dân.
Tại phường Minh Xuân, Tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ người dân truy cập nền tảng “Bình dân học vụ số”, tạo tài khoản, lựa chọn khóa học và thực hiện bài kiểm tra. Cùng với đó là hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và bảo vệ thông tin cá nhân.
Chị Nguyễn Thị Lan, chủ một cửa hàng kinh doanh trên địa bàn phường Minh Xuân chia sẻ: Trước đây mỗi lần làm thủ tục thuế phải đi lại nhiều lần, nay có thể thực hiện trực tuyến nên rất thuận tiện. Các khoản nghĩa vụ tài chính được công khai rõ ràng, giúp tôi chủ động hơn trong công việc.
Cùng với Tổ công nghệ số cộng đồng, các mô hình “Mặt trận số”, “Gia đình số”, “Chi hội số” cũng được duy trì, góp phần mở rộng không gian tham gia của người dân trên môi trường số. 100% cán bộ đã ứng dụng hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số và nền tảng “Mặt trận số” liên thông đến toàn bộ 124 cơ sở cấp xã; 100% chi bộ duy trì hiệu quả “Sổ tay đảng viên điện tử”. Điểm chung của các mô hình là đưa việc học kỹ năng số đến nơi người dân sinh sống, lao động và mua bán; đồng thời lựa chọn nội dung hướng dẫn từ chính những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống. Qua đó, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa lạ mà trở thành những thao tác cụ thể, có thể áp dụng ngay.
Tạo nền tảng để không ai bị bỏ lại phía sau
Để đưa kỹ năng số đến từng cộng đồng dân cư, từ ngày 01/7/2025 đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức 55 lớp tập huấn với hơn 11.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia. Sau khi HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND ngày 22/4/2026 quy định chính sách hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng, toàn tỉnh tiếp tục củng cố, duy trì hiệu quả 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 20.250 thành viên tại 100% xã, phường và thôn, tổ dân phố. Đây là lực lượng trực tiếp kết nối chủ trương chuyển đổi số với người dân ở cơ sở.

Lớp tập huấn sử dụng công nghệ số, ứng dụng AI trong thực thi công vụ, thực hiện thủ tục hành chính tại xã Quản Bạ, tỉnh Tuyên Quang.
Theo ông Phan Đăng Đông, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, mục tiêu quan trọng của công tác bồi dưỡng là hình thành lực lượng có khả năng hướng dẫn lại cho người dân. Khi những người am hiểu công nghệ có mặt ngay tại thôn, tổ dân phố, các vướng mắc có thể được hỗ trợ kịp thời, giúp chuyển đổi số đi vào thực chất, gắn với chất lượng phục vụ, phát triển kinh tế số và xã hội số.
Tuy nhiên, quá trình phổ cập kỹ năng số vẫn còn những khó khăn. Kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều; kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế; hoạt động của một số Tổ công nghệ số cộng đồng chưa phát huy hết hiệu quả. Toàn tỉnh vẫn còn 199 thôn, bản chưa có hoặc còn lõm sóng; hệ thống thiết bị tại một số cơ sở chưa đồng bộ, cấu hình thấp. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa hoàn thiện, còn phân tán; tiến độ số hóa chưa đồng đều; vẫn còn tình trạng xử lý song song hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử ở một số lĩnh vực...Thực tế này cho thấy phổ cập kỹ năng số là quá trình lâu dài, cần sự kiên trì và cách làm phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Đỗ Hùng Đức, các địa phương cần tăng cường hướng dẫn thực hành, “cầm tay chỉ việc”, tập trung vào sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm an toàn thông tin, phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng và khai thác nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, các địa phương cần rà soát, lập danh sách những người chưa có kỹ năng số, nhất là người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số để có phương án hỗ trợ cụ thể. Cách làm này chuyển từ hỗ trợ đại trà sang “đúng người, đúng nhu cầu”.
Từ việc hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, hướng dẫn thanh toán không dùng tiền mặt, ứng dụng nền tảng số trong sản xuất, kinh doanh đến nâng cao kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin trên môi trường mạng, chuyển đổi số đang từng bước được cụ thể hóa bằng những kết quả thiết thực, phục vụ trực tiếp đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục tiêu xây dựng Tuyên Quang trở thành tỉnh thông minh đến năm 2030 không chỉ được thể hiện qua việc phát triển hạ tầng số, nâng cao tỷ trọng kinh tế số mà còn được đánh giá thông qua khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ số của người dân, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số và mức độ tham gia, khai thác các nền tảng số của doanh nghiệp.
Từ “Bình dân học vụ số” đến phát triển công dân số, Tuyên Quang đang từng bước đưa chuyển đổi số đi từ chủ trương đến hành động, từ hệ thống lớn đến từng việc nhỏ ở cơ sở. Khi mỗi người dân có thêm một kỹ năng số, khoảng cách số được thu hẹp thêm một bước; khi người dân làm chủ công nghệ, nền tảng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số cũng ngày càng vững chắc. Đây là tiền đề quan trọng để Tuyên Quang thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và xây dựng một chính quyền ngày càng gần dân, phục vụ người dân tốt hơn.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
