Kể từ khi mã số vùng trồng rừng được cấp cho diện tích rừng của Đội 821, anh Trần Mạnh Huấn, Trưởng Phòng Kỹ thuật, Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn không còn phải vất vả để đi kiểm tra hiện trạng rừng mà vẫn quản lý, theo dõi được một cách chặt chẽ. Anh Huấn cho biết: Với chiếc điện thoại thông minh, tôi có thể soi vào mã quét QR Code đã được cấp, mọi thông tin, hình ảnh, hiện trạng rừng được cập nhật đầy đủ trên máy, rất dễ dàng trong quản lý và chỉ đạo sản xuất.

Các chuyên gia, nhà khoa học của Tập đoàn IREKA và Viện lâm nghiệp kiểm tra mã số truy xuất vùng trồng rừng tại xã Trung Sơn.
Theo anh Huấn, phần mềm, mã quét đã tạo nhiều thuận lợi trong công tác quản lý rừng, giúp minh bạch hóa quá trình sản xuất trong nội bộ đơn vị. Đồng thời, giúp cho các đối tác trong và ngoài nước có thể truy xuất tận gốc sản phẩm một cách dễ dàng.
Không chỉ cây gỗ rừng trồng, tại các vùng chuyên canh bưởi, chè… hình ảnh những người nông dân cầm điện thoại thông minh quét mã QR đã không còn xa lạ. Chỉ cần quét mã QR mọi thông tin từ khâu làm đất, bón phân đến ngày thu hoạch đều được cập nhật trực tiếp lên hệ thống phần mềm.
Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, tính đến hết năm 2025, đã cấp 149 mã số vùng sản xuất, trong đó có 25 mã phục vụ xuất khẩu EU, Trung Quốc; còn lại là mã nội tiêu với các sản phẩm chè, bưởi, thanh long, hồng, nhãn và cây lâm nghiệp.
Cấp mã số vùng trồng không chỉ tạo thuận lợi cho công tác quản lý mà còn tạo niềm tin với người tiêu dùng. Thực tế cho thấy, người tiêu dùng hiện nay không chỉ mua sản phẩm, họ mua sự an tâm. Một sản phẩm có đầy đủ lịch sử từ trang trại, vườn rừng đến tiêu dùng sẽ có giá trị gia tăng cao hơn từ 15 - 20% so với sản phẩm trôi nổi.
Nắm bắt được xu thế, yêu cầu minh bạch hóa quá trình sản xuất, nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng đã chủ động gắn mã QR trên sản phẩm, giúp người tiêu dùng dễ dàng tra cứu thông tin về nguồn gốc sản phầm.
HTX Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh (phường Mỹ Lâm) là một trong những điển hình. Giám đốc HTX Nguyễn Công Sử cho biết: HTX hiện có 07 sản phẩm chè OCOP, trong đó 04 sản phẩm đạt 4 sao, 03 sản phẩm đạt 3 sao. Tất cả sản phẩm của HTX đều được đăng ký nhãn mác, sử dụng tem QR truy xuất nguồn gốc theo chuẩn của Cục Sở hữu trí tuệ. Nhờ đó, nhiều sản phẩm đã vào được hệ thống siêu thị tại Hà Nội và xuất hiện trên các sàn thương mại điện tử.
Dù đã đạt được những kết quả khả quan, tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn những rào cản, đặc biệt là chi phí đầu tư. Theo phản ánh của các hộ sản xuất, các thiết bị cảm biến, phần mềm quản lý và tem nhãn vẫn là gánh nặng tài chính đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ. Cùng với đó là việc kết nối dữ liệu giữa các ngành nông nghiệp, công thương và khoa học công nghệ, doanh nghiệp làm dịch vụ cung ứng tem nhãn đôi khi còn chưa nhịp nhàng. Một sự cố tại Hội chợ hàng OCOP của tỉnh cách đây chưa lâu, một số sản phẩm đã được bày bán, tuy nhiên khi khách hàng quét mã trên bao bì để truy xuất nguồn gốc nhưng không có một thông tin nào được hiện lên. Lý do là đơn vị dịch vụ chưa kích hoạt mã số sản phẩm.
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, bảo đảm minh bạch thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, ngày 15/01/2026, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2026 – 2030.
Kế hoạch xác định 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm: rà soát hệ thống văn bản, quy định pháp luật về truy xuất nguồn gốc; tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức; vận hành, nâng cấp, mở rộng hệ thống truy xuất nguồn gốc của tỉnh; tổ chức thu thập thông tin, dữ liệu đánh giá thực trạng và nhu cầu truy xuất nguồn gốc; triển khai áp dụng hệ thống cho doanh nghiệp; hướng dẫn kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia.
Trong đó, tỉnh tập trung nâng cấp hệ thống truy xuất nguồn gốc bảo đảm tính tương tác, kết nối, an toàn, bảo mật; từng bước tích hợp các công nghệ mới như thiết bị IoT, cảm biến giám sát, nhật ký sản xuất điện tử, chuỗi lạnh; nghiên cứu ứng dụng blockchain nhằm nâng cao độ tin cậy, chống sửa đổi dữ liệu, nhất là đối với nhóm sản phẩm xuất khẩu hoặc có yêu cầu cao về minh bạch. Việc triển khai truy xuất nguồn gốc sẽ ưu tiên các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, nông sản, thực phẩm, dược liệu, gỗ và một số ngành hàng có mức độ rủi ro cao. Đồng thời, xây dựng các mô hình điểm để tạo cơ sở nhân rộng, đồng thời gắn với hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm… Phấn đấu 100% sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục ưu tiên trên địa bàn tỉnh được hướng dẫn áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc và kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia.
Đồng chí Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường khẳng định: Ngành sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan, tăng cường khâu hậu kiểm, xử lý nghiêm các trường hợp gian lận mã số, mã vạch để bảo vệ các đơn vị sản xuất, chế biến uy tín.
Với sự quyết liệt của tỉnh, ngành và sự đồng lòng của các chủ thể và người dân Tuyên Quang đang từng bước xây dựng hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc hiện đại, minh bạch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.
Ban Biên tập Cổng TTĐT tỉnh
